Home Blog

Đèn pin thân dẹt: trào lưu hay xu thế dài hạn?

0

2-3 năm trở lại đây là sự bùng nổ của thiết kế đèn pin EDC thật dạng dẹt. Giờ thì hãng đèn nào từ tầm trung cho tới cao cấp đều thi nhau làm đèn thân dẹt. Nhiều anh em cho rằng đây chỉ là một xu thế nhất thời, kiểu thi nhau mua vì kiểu dáng lạ mắt và tính năng đa dạng, nhưng mình thì lại không nghĩ vậy!

Thật khó để tìm hiểu xem hãng nào là tiên phong cho thiết kế đèn pin dạng này nhưng Nitecore chắc chắn là cái tên đưa đèn thân dẹt lên một tầm cao mới!

Anh em chơi đèn pin có thâm niên chắc sẽ vẫn nhớ cây đèn móc khoá Nitecore Tube ra mắt tầm 2015-2016. Không mất nhiều thời gian để nó trở thành đèn pin móc khoá quốc dân vì thiết kế rất đẹp, tích hợp pin, cổng sạc, sáng vô cấp và giá thời đó loanh quanh chỉ ~ 200.000vnđ.

Và cũng trong vài năm vừa rồi chưa hãng nào làm đèn pin dẹt nhiều và thành công như Nitecore. Các models thuộc dòng EDC của hãng bán rất chạy, không bị dẫm chân nhau và luôn có nhiều cải tiến mới. Gần đây nhất thì họ mới tung ra Nitecore EDC07 với thiết kế và cấu hình xứng đáng là đối thủ nặng kí của Fenix E06R Pro, nhưng vấn đề đó mình sẽ dành cho một bài khác khi nhận được đèn trên tay.

Giờ sẽ là các lý do khiến mình nghĩ đèn thân dẹt sẽ phát triển mạnh trong vài năm nữa:

1. Giải quyết được vấn đề thực tế

Trong thời đại mà nhiều sản phẩm nổi lên nhờ trend hoặc sự dẫn dắt quá đà từ marketing thương hiệu, vòng đời của chúng thường rất ngắn. Chính vì vậy, lý do mình tin rằng đèn pin EDC thân dẹt không phải là xu thế nhất thời nằm ở chỗ: chúng được sinh ra để giải quyết những nhu cầu rất thực tế của người dùng hiện đại.

Cụ thể là:

  • Nhỏ gọn, bỏ túi không cấn, không cộm
  • Pin tích hợp, có sẵn cổng sạc
  • Hình thức không giống đèn pin truyền thống
Nitecore EDC09

Về bản chất, đèn pin EDC thân dẹt được tối ưu cho những nhu cầu sử dụng cường độ thấp đến trung bình và đây cũng chính là nhóm nhu cầu chiếm đa số ở người dùng phổ thông hiện nay.

Fenix E03R V2.0 hoàn hảo để đeo cổ

Ví dụ như bản thân mình, mỗi ngày chỉ cần ánh sáng khoảng 5–10 phút để soi cầu thang, tìm đồ trong cốp xe, hoặc đi qua vài đoạn đường tối không có điện. Với nhu cầu đó, một cây Fenix E03R V2.0 là quá đủ, dù viên pin tích hợp chỉ khoảng 400mAh. Trung bình phải gần một tháng mình mới cần sạc lại một lần, và thực tế là có thể sạc bất kỳ lúc nào. Trong trường hợp này, thiết kế pin tích hợp kèm cổng sạc trên thân rõ ràng là một ưu điểm rất lớn.

Nitecore EDC29

Vài mẫu cỡ lớn hơn với pin từ 1500mAh đủ lên thì mình khẳng định là dư để dùng thoải mái trong môi trường đô thị, thậm trí cả trong những tình huống bất ngờ.

Fenix E06R Pro

Lý do cuối cùng nghe có vẻ hơi buồn cười, nhưng lại vô cùng thực tế. Mình chán ngấy cảm giác bị hỏi “đi đâu cũng mang đèn pin làm gì?” mỗi khi cầm theo những cây đèn truyền thống. Trong khi đó, đèn pin thân dẹt trông giống một món đồ công nghệ hơn. Có thể người ta không biết chính xác nó là gì, nhưng cũng ít để ý và ít thắc mắc hơn.

2. Công nghệ pin hiện tại đã rất tốt

Đèn thân dẹt đa số làm pin liền thân

Pin sạc tích hợp là lý do lớn nhất khiến nhiều anh em còn e dè với đèn pin EDC thân dẹt, bởi rõ ràng tuổi thọ của cây đèn gắn liền trực tiếp với viên pin bên trong. Chưa kể, trong những tình huống cần ánh sáng liên tục thì pin liền không thể tháo ra thay ngay như pin rời truyền thống.

Cả hai yếu tố này đều hoàn toàn đúng với nhóm người dùng có nhu cầu sử dụng đèn ở cường độ cao, chẳng hạn để phục vụ công việc hằng ngày. Trong trường hợp đó, đèn pin thân tròn với pin tháo rời vẫn là lựa chọn hợp lý và gần như không thể thay thế.

Tuy nhiên, như mình đã đề cập, với nhóm người dùng phổ thông, nhu cầu sử dụng ở mức thấp đến trung bình, chủ yếu muốn có một nguồn sáng đáng tin cậy luôn theo người, thì hai hạn chế trên gần như không đáng để bận tâm, bởi:

Về độ bền:


Pin sạc Lithium hiện nay đã rất bền, với tuổi thọ thực tế có thể đạt khoảng 500–1000 chu kỳ sạc, trong đó dung lượng vẫn giữ được khoảng 70–80% so với ban đầu. Nếu trung bình một tuần sạc một lần thì viên pin hoàn toàn có thể sử dụng trên 5 năm. Để so sánh, pin điện thoại ngày nào cũng phải sạc nhưng thường cũng phải sau 2 năm mới bắt đầu cần thay, mà đó là trong điều kiện hoạt động liên tục và khắc nghiệt hơn rất nhiều.

Về sự linh hoạt:


Hầu hết đèn pin EDC thân dẹt đều được trang bị đèn báo dung lượng pin theo thời gian thực, giúp người dùng luôn chủ động kiểm soát mức pin còn lại. Bên cạnh đó, cáp sạc Type-C hiện nay có mặt ở khắp mọi nơi, từ sạc điện thoại, pin dự phòng cho tới laptop, xe hơi. Với sự sẵn có như vậy, nếu để bản thân rơi vào tình trạng “hết pin bất ngờ” thì theo mình, vấn đề nằm ở thói quen sử dụng, chứ không hẳn là lỗi của thiết kế pin tích hợp.

3. Tính năng đa dạng, thú vị

Nitecore EDC37 đỉnh cao của công nghệ đèn pin

Thân phẳng dẹt cho phép các nhà thiết kế nhiều không gian cho sự sáng tạo với màn hình hiển thị thông số, cụm công tắc và hệ thống quang học đa kênh. Nhờ đó, cây đèn không còn đơn thuần chỉ là một nguồn sáng, mà trở thành một món đồ EDC mang tính công nghệ rõ rệt, bớt nhàm chán hơn rất nhiều so với đèn thân ống truyền thống.

Không khó để bắt gặp các mẫu đèn thân dẹt ngoài LED chiếu sáng chính còn được tích hợp thêm LED đỏ, UV, thậm chí cả laser, giúp đáp ứng nhiều nhu cầu sử dụng thực tế trong cùng một thiết bị nhỏ gọn.

Tất nhiên, đèn pin thân ống truyền thống cũng có thể sở hữu những tính năng tương tự, nhưng phần lớn chỉ xuất hiện trên các mẫu kích thước lớn, được thiết kế chuyên biệt cho mục đích công việc hoặc tác vụ cụ thể.

Ví dụ như cây Fenix E03R V2.0 mình đang sử dụng có thêm LED đỏ, rất tiện khi cần soi ở tầm gần mà không gây chói mắt hay làm lộ vị trí trong môi trường tối.

Hay Nitecore EDC09 có đầu chỉnh linh hoạt và hệ thống LED đa nhiệt màu.

4. Cây đèn pin tốt nhất là luôn mang theo người

Nitecore EDC17 nằm gọn trong túi quần

Với những ưu điểm rõ ràng về thiết kế và sự linh hoạt, đèn pin EDC thân dẹt được tối ưu để mang theo bên người và đủ sức giải quyết phần lớn các nhu cầu chiếu sáng hàng ngày. Một cây đèn có thông số ấn tượng tới đâu thì cũng trở nên vô nghĩa nếu khi cần, nó lại đang nằm trên kệ hoặc bàn làm việc ở nhà.

Bản thân mình không hề thiếu đèn pin đủ các loại, nhưng trong khoảng 90% những tình huống sử dụng bất ngờ, cây được lôi ra vẫn là Fenix E03R V2.0, đơn giản vì nó luôn ở đó, đeo sẵn trên cổ và không cần phải suy nghĩ.

Nitecore EDC09 thì được ví như Victorinox của thế giới đèn pin bởi nó làm được gần như mọi việc, từ hít lên kim loại, cài balo và dùng như headlamp khi cần.


Có thể thấy đèn pin EDC thân dẹt không được tạo ra để thay thế hoàn toàn đèn thân tròn truyền thống, mà để phục vụ những nhu cầu rất cụ thể và thực tế. Toàn bộ thiết kế và tính năng của chúng đều xoay quanh sự tiện lợi, cơ động và khả năng luôn sẵn sàng khi cần, chứ không cố gắng trở thành những cây đèn mạnh nhất trên thông số.

Nitecore EDC37 – 8000 Lumens

Quan trọng hơn, với sự phát triển của chip LED, pin và driver hiện nay, khoảng cách về hiệu năng giữa hai loại đèn này đang dần bị thu hẹp. Lấy Nitecore EDC37 làm ví dụ, pin tích hợp 8000mAh, độ sáng tối đa 8000 lumens, nhưng khi sử dụng thực tế vẫn cho cảm giác gọn gàng và dễ mang theo hơn nhiều cây đèn chạy pin rời cỡ 21700.

Đèn thân dẹt không đánh bại đèn thân tròn, chúng chỉ làm cho việc mang theo ánh sáng trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết!

Tại sao đèn pin dạng “lon nước ngọt” dần đi vào dĩ vãng?

0

Đợt rồi đi cắm trại thấy ông anh lôi ra cây BLF Q8 (Sofirn Q8), tự dưng bao nhiêu hoài niệm ùa về. Mình vốn thích đèn pin từ nhỏ, nhưng phải tới khoảng năm 2013 mới thực sự được tiếp cận với những cây đèn “siêu sáng” đúng nghĩa.

nguồn: Reddit

Đó cũng là giai đoạn đỉnh cao của những cây đèn pin ngắn, lùn, thân to như lon nước ngọt. Ở nước ngoài, người ta gọi chúng bằng cái tên rất hình tượng: “soda-can flashlights”.

Cây Jetbeam DDR30 là mơ ước của mình thời đó

Dạng đèn này giữ thị phần đáng kể suốt nhiều năm, kéo dài tới khoảng 2020, với hàng loạt cái tên từng được xem là mơ ước của giới chơi đèn: Jetbeam DDR30, Olight X7, X7R, Acebeam X80… và không thể không nhắc tới mẫu BLF Q8 “quốc dân”, sau này được Sofirn sản xuất với số lượng cực lớn.

Thế nhưng, tới năm 2026, đèn pin dạng lon nước ngọt gần như đã biến mất khỏi thị trường, và nhiều khả năng trong tương lai sẽ thực sự đi vào dĩ vãng.

Vì sao một thiết kế từng rất phổ biến lại dần bị bỏ lại phía sau?

Bài viết này sẽ liệt kê ra những lý do tiêu biểu dựa trên kinh nghiệm cá nhân của mình.

1. Kích thước không còn là thứ để khoe

Một đặc trưng của đèn pin dạng lon nước ngọt chính là cấu trúc thân đèn to nhưng ngắn, được thiết kế để đặt 3-4 viên pin 18650 nằm song song. Thường các hãng sẽ dừng lại ở 4 pin bởi nhiều hơn sẽ không hợp lý để cầm nắm.

Vào thời điểm 2013 – 2017 thì cách đơn giản nhất để tạo ra một cây đèn pin công suất khủng là gắn cho nó nhiều pin và chip LEDs. Thời đó Cree XM-L2 là chùm của led siêu sáng, mỗi chip sẽ cho ra khoảng 1000 Lumens với 1 viên pin sạc 18650.

Tóm lại thì nếu muốn một cây đèn pin sáng khủng từ 3000 Lumens với công nghệ LED thời đó thì đèn lon nước ngọt là sự lựa chọn phổ biến nhất.

Nitecore EX7 cho độ sáng 6000 Lumens với 1 pin 21700

Từ 2020 trở đi là sự bùng nổ của công nghệ LED, Driver và cả pin. Một cây đèn chạy 1 pin cỡ 18650 hay 21700 cũng dễ dàng đạt 3-4000 Lumens => Kích thước thân lớn dần trở nên vô lý.

6000 Lumens

2. Trải nghiệm cầm nắm không thực sự tốt

Sofirn SP36

Với những mẫu đèn chạy 3 pin 18650 như Sofirn SP36, Jetbeam DDR30 thì mình thấy cầm nắm vẫn ổn do đường kính thân chỉ loanh quanh ~ 50mm. 

Sofirn Q8 với thân dùng 4 pin 18650

Nhưng tới đèn chạy 4 pin thì sẽ cảm thấy không thoải mái khi cầm nắm thời gian dài, kiểu dùng vài tiếng trong rừng thì sẽ phải đổi tay liên tục và thường phải gắn thêm dây đeo để tránh bị rơi.

Chưa kể, đèn pin dạng lon nước ngọt gần như không có tính di động. Việc bỏ túi rất bất tiện do thân to, trong khi trọng lượng có thể lên tới hơn 500 g khi gắn đủ pin.

Đa phần đèn lon nước ngọt cho ánh sáng toả rất rộng

Chính vì vậy, nhiều người dùng cho rằng đèn pin dạng lon nước ngọt chỉ thực sự hợp lý khi đặt cố định trên bàn và sử dụng như một nguồn sáng hắt trần hoặc chiếu sáng cho nhóm đông người.

3. Sự xuất hiện của pin sạc 21700

Tesla giới thiệu pin sạc cỡ 21700 vào năm 2017, và các hãng đèn pin nhanh chóng bắt sóng xu hướng này. So với pin 18650 tiêu chuẩn, pin 21700 có dung lượng cao hơn gần gấp đôi, trong khi kích thước chỉ tăng khoảng 20%.

Sofirn HS41 sáng tới 4000 Lumens.

Chỉ với một viên pin 21700 chất lượng tốt, dòng xả cao, một cây đèn pin đã có thể đạt mức sáng trên 3000 lumen, đồng thời duy trì ổn định quanh 1000 lumen trong thời gian dài, hiệu năng tương đương với những mẫu đèn chạy 3 viên pin 18650 trước đây.

Fenix PD36R Pro cầm nắm rất ổn với thân dùng pin 21700.

Trong khi đó, đèn pin sử dụng pin 21700 lại gọn gàng hơn rất nhiều: đường kính thân thường dưới 30 mm, trọng lượng dưới 200 g. Với hiệu suất gần tương đương nhưng kích thước và trọng lượng giảm mạnh như vậy, không khó hiểu khi người dùng dần quay lưng với những cây đèn pin dạng lon nước ngọt béo và lùn.

Fenix TK35R sáng 5800 Lumens

Ngay cả pin sạc cỡ 18650 cũng đã tiến bộ đáng kể, với dung lượng hiện nay có thể đạt tới 4000 mAh. Chỉ cần thiết kế thân đèn chứa 2 viên pin song song, như dòng Fenix TK35R, đã là quá thoải mái về hiệu năng cho đa số nhu cầu.

Fenix LR36R Pro sáng 10.000 Lumens.

Hoặc đi xa hơn, việc đặt 2 viên pin 21700 song song, như trên Fenix LR36R Pro, cho thấy các hãng hoàn toàn có thể đạt công suất cao mà không cần quay lại thiết kế lon nước ngọt truyền thống.

4. Mục đích sử dụng hẹp

16.000 Lumens của Sofirn Q8 Plus.

Thực ra thì đèn pin lon nước ngọt không “chết” mà chỉ bị đẩy vào ngách cho những mục đích chuyên biệt như:

  • Tìm kiếm cứu nạn
  • Dùng cho nhóm đông người
  • Chiếu sáng diện rộng cho quay phim, chụp ảnh
  • Sử dụng cố định tại nhà
  • Đơn giản là do sở thích

Với công nghệ bây giờ thì đèn pin dạng này đã mạnh mẽ hơn trước rất nhiều, độ sáng có thể đạt > 10.000 Lumens một cách dễ dàng nhưng đa số người dùng phổ thông vẫn thấy chưa đủ thuyết phục để mang theo những cây đèn cồng kềnh như vậy. Họ cần đèn nhỏ gọn để bỏ túi, có thể cho độ sáng cao trong thời gian ngắn khi cần.

Chưa kể với giới hạn kích thước nếu dùng 3-4 pin 18650 thì việc tản nhiệt cũng là bài toán nan giải, dùng có sáng mạnh cỡ nào thì chúng cũng chỉ duy trì ổn định ở khoảng 2000 Lumens quay đầu.

Fenix LR40R trong hang Sa Khao.

Với những tổ chức cứu hộ, đi hang động chuyên nghiệp họ sẽ trang bị đèn to hẳn để duy trì được độ sáng cao trong thời gian dài.

Chẳng hạn như Fenix LR40R V2 cũng dùng 4 pin 18650 nhưng kích thước làm đủ to để kéo ổn định ở ~ 3000 Lumens tới khi hết pin.

Fenix LR60R – 21.000 Lumens

Hay như Fenix LR60R nặng tới 1.5kg tính cả pin nhưng lại có thể duy trì ở ~ 3500 – 5000 Lumens.

Tổng kết

Có thể nói, đèn pin dạng lon nước ngọt hiện nay vẫn tồn tại, nhưng không còn ở vị thế trung tâm của thị trường. Dù cả các hãng lớn lẫn những thương hiệu giá rẻ như Sofirn vẫn tiếp tục sản xuất, tập khách hàng mà họ hướng tới đã trở nên rất hẹp, mang tính phục vụ nhu cầu cụ thể, thay vì tạo trào lưu và bán với số lượng lớn như các dòng đèn pin nhỏ gọn.

Trong khoảng 3–5 năm tới, đèn pin dạng lon nước ngọt nhiều khả năng vẫn sẽ còn hiện diện. Tuy nhiên, với những thay đổi về công nghệ pin, LED và thói quen sử dụng của người dùng, thật khó để hình dung một kịch bản mà thiết kế này có thể bùng nổ trở lại như thời kỳ hoàng kim trước đây.

So sánh Fenix TK28R vs TK35R RED: suýt “dẫm chân” nhau

0

Như đã hứa, bài viết này mình sẽ so sánh chi tiết Fenix TK28RTK35R RED (bản ánh sáng đỏ). Bài review độc lập TK28R các bạn có thể đọc ở ĐÂY.

TK28R và TK35R RED là hai mẫu đèn Fenix rất gần nhau về cấu hình cơ bản, nhưng lại khác nhau ở cách tiếp cận thiết kế và trải nghiệm sử dụng. Bài này sẽ không hỏi “cây nào hơn”, mà là: hai cây phù hợp với ai, dùng trong trường hợp nào và vì sao bạn nên chọn cái này thay vì cái kia.

“Đèn pin Fenix TK35R RED là biến thể của phiên bản TK35R được trang bị LED ánh sáng đỏ công suất cao thay cho đèn UV. Các thông số khác không thay đổi”

  • Link mua Fenix TK28R: CLICK
  • Link mua Fenix TK35R: CLICK

Tặng anh em CODE giảm giá 15% cho 2 mẫu này: NEWOBLTNFENIX


Danh mục bài viết:

  1. Video
  2. Thông số kĩ thuật
  3. Thiết kế và tính năng
  4. Hiệu năng chiếu sáng thực tế
  5. Tổng kết

1. Video

2. Thông số kĩ thuật

Tiêu chí Fenix TK28R Fenix TK35R RED
Pin 2 × 18650 2 × 18650
Dung lượng 8000 mAh 8000 mAh
Turbo 6500 lm 5800 lm
High 2000 lm 2000 lm
Medium 800 lm 800 lm
Low 350 lm 350 lm
Eco 30 lm 30 lm
Candela max ~50.000–60.000 cd 93.000 cd
Tầm chiếu xa ~400 m 610 m
Beam pattern Flood + spill rộng Throw rõ, hotspot tập trung
Ánh sáng đỏ (High) 260 lm 260 lm
Tầm chiếu ánh sáng đỏ Xa hơn Ngắn hơn
Kích thước đầu đèn Thân & đầu dẹt hoàn toàn Đầu tròn, thân dẹt
Trọng lượng (có pin) ~358 g 342 g
Công tắc Tactical tail switch (giống nhau) Tactical tail switch
Chống nước IP68 IP68
Chịu va đập 1 m 1 m
Triết lý Đa dụng – kiểm soát nhiệt – ổn định Chiếu xa – định hướng mục tiêu

 

3. Thiết kế và tính năng

Kích thước tổng thể

Với thiết kế dẹt từ đầu tới đuôi nên TK28R dù ngắn hơn TK35R RED nhưng kích thước tổng thể lại to hơn. Bề ngang thân cây này dài hơn TK35R RED khoảng ~ 8mm (51mm vs 43mm) dẫn tới việc cảm giác cầm nắm cũng khác hẳn nhau.

Như mình có kích thước bàn tay trung bình cầm TK35R RED rất vừa vặn, chắc chắn.

Còn sang TK28R thì thấy hơi to, dùng lâu dài phải buộc thêm dây tránh rơi rớt.

Trọng lượng 2 cây chênh nhau khoảng 16g, cũng không đáng kể.

Triết lý thiết kế 

Để trả lời cho câu hỏi tại sao TK28R lại tồn tại thì chúng ta phải nhìn thẳng vào triết lý trong thiết kế của 2 mẫu đèn. Tại sao Fenix lại tự làm khó mình khi làm ra một cây đèn dẹt mà vẫn có cơ chế nắp pin và chống nước IP68 như TK28R. Làm kiểu thân dẹt đầu tròn như TK35R không phải đơn giản hơn sao?

Hãy nhìn vào điểm này: dù to hơn nhưng TK28R lại bỏ túi rất ổn cho thân dẹt đúng nghĩa, TK35R sẽ hơi bị cấn do đầu tròn đường kính ~ 43mm.

Mấu chốt nằm ở khả năng chống lăn của TK28R là tuyệt đối, đặt trên mặt phẳng là không nhúc nhích được gì. Rõ ràng đây là một cây đèn tuyệt vời để đặt trong ngăn kéo hay hộc chứa đồ trên xe hơi.

Trong khi đó TK35R RED được tối ưu hết cỡ về kích thước để luôn mang theo người, dùng cho những nhiệm vụ cần sự cơ động và thoải mái tối đa khi thao tác.

=> Nhìn từ kích thước và cảm giác cầm nắm, có thể thấy TK28R được sinh ra để đặt đúng chỗ và luôn sẵn sàng, còn TK35R RED được tối ưu để luôn ở trên người và phản ứng nhanh nhất có thể.

Cả TK28R TK35R RED đều được xếp vào nhóm đèn pin tác chiến/chiến thuật nhờ cụm công tắc đuôi phản ứng nhanh. Hai mẫu đèn này đều hỗ trợ bật/tắt tạm thời, kích hoạt nhanh Turbo và nháy Strobe ở kênh sáng trắng, vì vậy về giao diện sử dụng gần như không có khác biệt đáng để bàn luận.

Chung cơ cấu sạc Type-C

Cổng sạc Type-C trên cả hai cũng dùng chung thiết kế nắp trượt bằng kim loại, vừa đảm bảo độ bền cao vừa mang tính thẩm mỹ. Tốc độ sạc thực tế của cả TK28R và TK35R RED đều đạt khoảng ~25W, một con số rất ổn với cấu hình 2 pin 18650.

Điểm khác biệt thực sự bắt đầu xuất hiện khi nhìn vào cách bố trí pin. Cả hai đều sử dụng 2 viên pin sạc 18650 đặt song song trong thân đèn dẹt, nhưng cách mắc pin lại hoàn toàn khác nhau:

  • Fenix TK35R RED sử dụng cấu hình 2 pin mắc song song (2P), cho dải điện áp giữ nguyên ở mức 3.7 – 4.2V.

  • Fenix TK28R dù pin vẫn đặt song song về mặt hình học, nhưng lại được mắc nối tiếp (2S), giúp tăng gấp đôi điện áp lên 7.4 – 8.4V.

Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu suất hoạt động và phản ánh rất rõ mục đích thiết kế của từng mẫu đèn. Mình sẽ phân tích kỹ hơn ở phần tiếp theo.

Còn xét thuần về tính thực dụng, TK35R RED tỏ ra linh hoạt hơn khi vẫn có thể hoạt động chỉ với một viên pin. Dù không lý tưởng để duy trì Turbo, nhưng trong các tình huống khẩn cấp, khả năng “còn pin là còn sáng” này mang ý nghĩa rất lớn.

4. Hiệu năng chiếu sáng thực tế

Phần này sẽ hơi nặng kĩ thuật nhưng anh em đừng lo, phần tổng kết mình sẽ trả lời câu hỏi ai hợp với cây đèn nào.

Phần này mình sẽ tập trung vào kênh ánh sáng trắng.

Hệ thống quang học chính của Fenix TK35R RED sử dụng 4 chip LED SFT25Rs với kích thước nhân nhỏ, được tối ưu cực tốt cho khả năng chiếu xa.

Fenix TK35R RED – 5800 Lumens

Ở mức Turbo 5800 Lumens cây này đạt 93.000 candela đem lại tầm chiếu xa 610 mét. Đây là thông số rất tuyệt cho một đầu đèn đường kính 43mm.

Trong khi đó TK28R sử dụng 2 chip là SFT70 và SST70 của Luminus hoạt động đồng thời, cho quang thông cực đại 6500 Lumens với tầm xa 400 mét.

Fenix TK28R – 6500 Lumens

Thông số candela ở mức này đạt 40.000 tức chỉ bằng 43% so với TK35R RED.

Cho dễ hiểu thì TK35R RED ăn đứt về tầm chiếu xa còn TK28R thiên về ánh sáng nhìn bao quát với tầm xa thực tế đạt ~ 200 mét.

Khả năng chiếu xa tốt của TK35R RED đồng nghĩa với việc nó không cần quá nhiều Lumens để nhìn hiệu quả ở cùng 1 khoảng cách so với TK28R. Lấy mốc 150 mét làm ví dụ:

  • TK35R RED chỉ cần 350 Lumens là đủ cho khoảng cách này
  • Trong khi TK28R cần tới 800 Lumens

Và cuối cùng anh em hãy nhìn vào biểu đồ Runtime của 2 cây đèn:

Fenix TK35R – runtime
  • Fenix chỉ tối ưu cho TK35R RED chạy ổn định ở mức 800 – 1000 Lumens nên nhiều anh em sẽ vội kết luận cây này hiệu suất kém
Fenix TK28R – runtime
  • TK28R thì có khả năng duy trì ổn định ở 2000 Lumens tới hết pin sau khi hạ từ Turbo
800 Lumens của TK35R quá đủ dùng ở ngoài trời.

Như mình đã phân tích ở phần sau của bài viết này, với triết lý “ăn chắc mặc bền” và “ưu tiên hiệu năng hơn là phô trương” của Fenix thì lý do chính mà TK35R RED chạy ổn định ở 800 – 1000 Lumens là do chất lượng beam của nó quá tốt. Với định hướng là một cây đèn chiếu tầm xa thì duy trì Lumens cao hơn nữa chỉ tổ tốn pin và không thực dụng. Đánh đổi lại là ánh sáng bao quát ở tầm gần sẽ kém hơn nếu so với những mẫu đèn chiếu toả như Acebeam X20R hay Fenix TK28R.

Đây là 2000 Lumens của TK35R
  • Điều này giải thích tại sao TK35R RED có cách mắc song song để ít gây stress cho pin, phù hợp chạy ổn định ở độ sáng như đã đề cập
TK28R – 6500 Lumens

Đối với TK28R, nó chiếu xa cũng không hề tệ nhưng chủ yếu được định hướng là một cây đèn đa dụng, cho ánh sáng cực mạnh trong một phạm vi ~ 1-200 mét đổ lại.

Và lúc này hệ pin 2s nối tiếp với mức điện áp lớn lại rất phù hợp. Nhưng trong bài review chi tiết mình cũng đề cập TK28R có thể kích hoạt lại mức Turbo nhiều lần mà không lo về vấn đề quá nhiệt.

Ánh sáng đỏ

Ánh sáng đỏ để làm gì? Ngắn gọn thì nó giúp bảo vệ thực lực ban đêm, ít làm lộ vị trí và không đánh động các loài động vật. Nếu sử dụng đèn pin trong môi trường quân đội thì ánh sáng đỏ là bắt buộc phải có. Còn dân sự hơn như đi camping thì ánh sáng đỏ không gây thu hút công trùng như muỗi, và bật ban đêm không làm chói mắt người xung quanh.

TK28R – sáng đỏ
  • Ở TK28R, LED đỏ chiếu xa rất tốt với 68 mét (hiêu quả trong 35 mét đổ lại), hoàn toàn có thể dùng chiếu sáng chính cho những hoạt động chuyên biệt.
    • Kênh này có thêm 2 mức là 10 – 100 Lumens và nháy Flash ở 10 Lumens.
TK35R RED – sáng đỏ
  • Trên TK35R RED thì LED đỏ cũng rất mạnh nhưng gần như không thấy hot spot luôn, nó chỉ phù hợp nhìn trong khoảng 10 mét đổ lại.
    • Có thêm mức phụ là 15 Lumens và nháy Flash 15 Lumens.
TK35R RED – sáng đỏ

Có thể thấy sáng đỏ của TK35R RED phát huy hiệu quả tốt nhất ở tầm gần.

5. Tổng kết

Fenix không tạo ra TK28R TK35R RED để cạnh tranh lẫn nhau, mà để giải quyết hai nhu cầu sử dụng hoàn toàn khác biệt.

TK35R RED là một cây đèn tác chiến đúng nghĩa: gọn gàng, linh hoạt, phản ứng nhanh và luôn sẵn sàng hoạt động ngay cả trong điều kiện thiếu pin. Nó phù hợp với những anh em đã xác định rõ được nhu cầu là cần đèn chiếu xa tốt, dung lượng pin khủng trong một cây đèn gọn gàng nhất có thể. Ánh sáng đỏ ở đây đóng vai trò hỗ trợ, đủ dùng cho quan sát gần và giữ kín vị trí.

Trong khi đó, TK28R lại là một “trạm phát sáng di động” được nén vào hình hài thân dẹt. Cấu hình pin mắc nối tiếp, beam rộng và đều, cùng kênh ánh sáng đỏ mạnh cho thấy đây là cây đèn được thiết kế để bao phủ nhiều kịch bản sử dụng nhất có thể, kể cả khi người dùng không biết trước mình sẽ cần ánh sáng kiểu gì. Đặc biệt với anh em cần sử dụng ánh sáng đỏ một cách nghiêm túc và thường xuyên thì chọn cây này là quá chuẩn!

Nói ngắn gọn:
TK35R RED dành cho người cần sự cơ động, chiếu xa vượt trội
TK28R dành cho người cần sự chủ động và toàn diện.

Còn anh em có điều kiện thì cứ quất cả 2 thôi!

Vì sao đi rừng nên mang ít nhất 2 đèn pin?

0

Mình là một thằng nghiện đèn pin, đi phượt và đi rừng. Đi rừng thì mình không dám nhận là chuyên nghiệp, nhưng cũng đủ nhiều để rút ra được vài bài học. Và cụ thể ở đây là bài học về đèn pin.

Bài viết này chia sẻ lại cho anh em vài lần mình “ăn hành” vì chủ quan trong chuyện đèn đóm, từ đó rút ra những điều mình học được về một món trang bị tưởng như rất cơ bản, nhưng lại dễ bị xem nhẹ.

Lần 1

Tầm hơn một năm trước, mình bắt đầu cơ cấu lại đống đèn theo hướng tinh – gọn – nhẹ, tức là mang đủ dùng thôi, không dư thừa. Lần đó đi trekking cùng mấy anh em ven hồ Xạ Hương, nhưng là tuyến mới, gần như khai hoang lại từ đầu.

Hôm đó mưa to. Trong lúc di chuyển có đoạn trượt chân, cả người lăn xuống hồ, nước ngập tới khoảng hai phần ba cái balo đang đeo trên lưng.

Tới được khu trại, bỏ đồ ra kiểm tra thì:

  • Cây đèn đeo trán Nitecore NU21 bỏ trong ngăn bỏ ở quai trợ lực bị ngấm nước và hỏng hoàn toàn
  • Còn lại duy nhất cây Fenix CL26R Pro để ở ngăn cao nhất của balo là không sao
Fenix CL26R Pro

Kết quả là toàn bộ ánh sáng buổi tối hôm đó phải trông chờ hết vào cây Fenix. Mà anh em biết rồi đấy, đèn cắm trại thì không thể đảm nhiệm được vai trò của đèn đeo trán. Điện thoại thì cũng chết nước luôn, không tận dụng được flash.

Lúc đó mình cũng không đổ lỗi cho NU21. Bản thân nó chỉ có chuẩn chống nước IP66, tức là đi mưa thì ổn chứ ngâm nước là chịu. Nghĩ lại thì cũng chỉ biết tự nhủ là… xui thôi, chứ mấy khi trekking lại ngã thẳng xuống hồ như vậy.

Lần 2

Lần này thì không liên quan gì tới sông hồ.

Fenix HL16

Một buổi đi camping được rủ khá gấp, mình vớ vội mỗi cây đèn đeo trán Fenix HL16 rồi lên đường. Tới nơi, lúc soạn đồ mới phát hiện ra một chuyện rất cơ bản: quên chưa sạc pin từ lần dùng trước.

Bật mức 150 lumens được đúng khoảng 5 phút thì đèn tụt một mạch xuống mức thấp nhất, cỡ đâu đó 5 lumens.

Cũng may là mức sáng này vẫn đủ để dùng cầm chừng vài tiếng buổi tối trước khi đi ngủ. Còn ánh sáng chính để sinh hoạt thì lại phải nhờ tới… flash điện thoại.


2 lần là quá đủ để dạy cho mình một bài học về sự chủ quan. Anh em chơi outdoor sẽ hiểu buổi tối mà không có đủ ánh sáng để sinh hoạt thì nó khó chịu cỡ nào. Mà với dân ngoại đạo thì không nói, chứ đam mê đèn đóm mà lại không có đèn để dùng lúc cần thì đúng là bực x 10.

Sau lần cuối cùng đó thì mình quyết định sẽ không bao giờ để bản thân rơi vào tình huống bị động như vậy nữa. Và đây là những điều mình rút ra được:

1. Luôn mang ít nhất 2 cây đèn có thể thay thế cho nhau

Đa phần đèn pin cắm trại không thay thế được cho đèn đeo trán hay đèn cầm tay và điện thoại là để liên lạc chứ không phải chiếu sáng.

Cho tới hiện tại thì set up cơ bản của mình trong mỗi chuyến outdoor sẽ là: 1 đèn pin cầm tay + 1 đèn pin đeo trán + pin dự phòng

Tuỳ vào cường độ và tính chất của mỗi chuyến mà set up này sẽ thay đổi, chủ yếu do mình có nhiều đèn đóm nên có cơ hội là phải lôi đi test. Còn anh em có thể làm 1 set up cố định cho nhẹ đầu nhé!

Ví dụ trong những chuyến camping nhẹ nhàng, quen thuộc thì mình sẽ mang:

  • Đèn đeo trán Fenix HL16 gọn nhẹ, dùng 3 pin AAA
  • Đèn móc khoá Fenix E03R
  • ít nhất 3 viên pin AAA dự phòng

(Hiện Fenix và Nitecore nhiều đèn đeo trán siêu nhẹ mẫu mới ngon hơn cây HL16 này, anh em có thể tham khảo: Nitecore UT27, Nitecore NU11, Fenix HL17R, Fenix HL12R,…)

Còn trong những chuyến đi rừng dài ngày hay những cung trekk mới thì mình sẽ mang:

Fenix HM62-TPD36R Pro
  • Đèn đeo trán dùng pin 18650
  • Đèn cầm tay dùng pin 18650 (hoặc 21700)
  • 1-2 viên pin 18650 dự phòng (hoặc sạc dự phòng cũng được)

Với những chuyến có độ rủi ro cao, khi ánh sáng trở nên cực kỳ quan trọng, mình luôn cố gắng mang hai cây đèn dùng chung một loại pin. Lý do rất đơn giản: nếu chẳng may một cây gặp sự cố thì pin vẫn tận dụng được cho cây còn lại. Thêm nữa là ưu tiên loại đèn/pin có thể sạc qua cổng Type-C để tận dụng được sạc dư phòng mang theo.

Tuỳ nhu cầu cá nhân mà anh em có thể mang 2 đèn đeo trán, 2 đèn lặn biển,… Mấu chốt nằm ở việc tự đặt cho bản thân câu hỏi: “Nếu đèn hỏng thì mang gì để dùng thay nó?”

(Tham khảo: Fenix HM65R V2.0, Fenix HM60R V2.0, Fenix HM62-T, Nitecore HC65 UHE,….)

Nitecore NU11 rất gọn và thực dụng

Thực tế là trong ~ 80% các chuyến đi mình vẫn sẽ mang theo 1 cây Nitecore NU11 để kẹp mũ bởi nó cực kì nhẹ, phù hợp sinh hoạt quanh lán trại hoặc cho ai đó trong đoàn mượn nếu cần.

2. Để ý tới khả năng chống nước

Sau pha ngã xuống hồ, mình bắt đầu hình thành thói quen bọc toàn bộ đồ điện tử nhạy cảm vào túi zipper. Những cây đèn có chuẩn chống nước từ IPX7 / IP67 trở xuống thì anh em nên bọc lại cho chắc, pin dự phòng mang theo cũng vậy.

Thực tế là nhiều cung trekking mình đi không hề gần sông suối, nhưng những cơn mưa bất chợt trong rừng thì không báo trước. Từ khi có thói quen này, mình gần như không còn phải lo lắng nữa, bởi những thứ quan trọng nhất luôn được giữ khô ráo.

3. Áp dụng tương tự cho những trang bị thiết yếu

Với những đồ rất cơ bản và quan trọng khác như dụng cụ tạo lửa, cắt gọt, liên lạc,… thì anh em cũng nên có phương án dự phòng.

Cũng giống như đèn pin, đồ dự phòng chỉ cần gọn nhẹ, có công năng đủ dùng khi nguy cấp là ok rồi!


Tóm lại, đèn pin dù đắt tiền tới đâu, dù tối giản hay “trâu bò” cỡ nào, thì vẫn luôn có xác suất hỏng hóc, rơi vỡ hoặc thất lạc. Dùng hằng ngày trong đô thị thì chuyện đó không quá nghiêm trọng, nhưng khi ra ngoài thiên nhiên, việc đặt toàn bộ sự an toàn của bản thân vào duy nhất một cây đèn là một canh bạc không đáng.

Không phải ngẫu nhiên mà các giải Ultra Trail từ 50km trở lên luôn yêu cầu vận động viên bắt buộc mang đèn pin dự phòng. Đó không phải là sự thừa thãi, mà là cách người ta quản lý rủi ro trong điều kiện ánh sáng quyết định trực tiếp tới an toàn.

Nguyên tắc này không chỉ áp dụng cho đi rừng, mà cho tất cả những công việc phụ thuộc nhiều vào đèn pin. Bởi lẽ, dù các hãng lớn có bảo hành 5–10 năm thì quy trình đó cũng không thể diễn ra trong một đêm. Trong lúc chờ đợi, nếu không có đèn dự phòng, thứ bị ảnh hưởng đầu tiên sẽ là công việc và sự an toàn của chính anh em!

Review thập cẩm đồ EDC bằng Titanium mới về (12/2025)

0

Đèn đóm mãi cũng ngấy, nay mình giới thiệu cho anh em hơn chục món đồ phụ kiện EDC bằng Titanium rất hay. Mấy món này nhỏ, hoàn thiện rất nét, và quan trọng là độ thực dụng cao.

Tặng anh em mã giảm giá 10% khi mua tại Website của Bisu: EDCZC0UYITEMS

1. Kéo Titanium Mini TX23 

  • Giá bán: 320.000đ
  • Link mua hàng: CLICK
Chất lượng hoàn thiện rất nét

Một chiếc kéo nặng vỏn vẹn ~8g với chất lượng hoàn thiện nét đến từng chi tiết, có lò xo trợ lực được giấu trong ốc trục chứ không lộ ra ngoài.

Cái kéo này kích thước ngang với của Victorinox dòng 58mm, mượt hơn và có tính thực dụng cao.

Chốt giữ cố định khi đóng sẽ kiêm luôn vị trí để xỏ dây hoặc móc chìa khoá.

2. Dao gấp Titanium móc khoá

Đợt này mình nhận 4 mẫu dao mini chuyên để móc khoá cho anh em hay phải rạch thùng, cắt băng dính hay đơn giản là cho vào kit sinh tồn.

Từ trái qua là các mẫu:

Đám này có cán bằng hợp kim Titanium, hoàn thiện quá ngon so với mức giá. Dù quá nhỏ để làm chốt khoá nhưng chúng đều có cơ chế bản lều để giữ cố định lưỡi khá chắc chắn khi ở trạng thái mở. Lưỡi đều rất bén và có thể dễ dàng mài lại.

Đóng lại cực gọn

Cây TX31 này có hình dáng mô phỏng chiếc lá, nặng chỉ 7g. Lưỡi chính dài khoảng 2cm và tổng chiều dài là 6cm khi ở trạng thái mở.

TX35 bé và nhẹ nhất trong cả đám chỉ với 5g. Cây này đóng mở rất nhẹ nhàng với lưỡi chính ~ 2.5cm và tổng chiều dài ~ 6cm.

Khi gấp gọn.

TX38 dài tới 8cm nên cầm nắm ổn hơn nếu phải thao tác nhiều. Lưỡi chính dài ~ 3.5cm và nặng 10g.

Cầm nắm rất ok với một cây dao treo móc khoá

TX38 khi gấp gọn.

TX41 có thân dạng ống tre làm rất công phu. Phần cán dài ~ 5cm và lưỡi chỉ ~ 2.3cm rất phù hợp để cắt gọt cần độ chính xác cao. Tổng trọng lượng cây này cũng là 10g.

TX41 khi gấp gọn.

3. Nhíp Titanium 

Nhíp không phải là món ai cũng cần bên người, nhưng với những ai có nhu cầu thì họ lại cần 1 cây có chất lượng tốt.

Từ trái qua là:

Nếu anh em chỉ cần duy nhất chức năng của 1 cây nhíp thì mẫu TX14 sẽ phù hợp. Nó nặng chỉ 7g với 2 mũi kẹp được bắt vít vào cán.

Cây này mình thấy có độ rơ nhẹ nên phần mũi sẽ không khít 100%, nhưng vẫn dùng ok.

2 mẫu TX18 và TX26 thì sẽ được tích hợp thêm 1 lưỡi dao nhỏ nên sẽ đa năng và cũng nặng hơn.

TX18 rất dày dặn và chắc chắn
Mũi nhíp rất khít

Cây TX18 nặng ~ 16g với phần thân được gia công nguyên khối từ 1 cục Titanium nên độ chính xác cực cao, mũi khít không khuyết điểm.

Lưỡi đi kèm sắc lẹm, dài ~ 3.5cm. Khi sử dụng thì phần thân nhíp dài ~ 7cm lại cho lợi thế lớn về cảm giác cầm nắm thoải mái.

Cây này cũng gia công từ Titanium nguyên khối

Mẫu TX26 cũng là Titanium nguyên khối, nặng ~ 13g và dài ~ 7.5cm.

Mũi khi đóng có độ lệch nhẹ về chiều dài, nhưng vẫn đảm bảo khít

Thiết kế của cây này là khi kẹp thì chỉ có phần càng ở dưới di chuyển nên mũi có 1 độ lệch nhau rất nhẹ, không ảnh hưởng tới công năng.

Lưỡi dao bản to dài 2.5cm đóng mở rất nhẹ nhàng.

Cảm giác cầm khá thoải mái.

4. Móc khoá Carabiner Titanium

Ở đây mình có 2 mẫu là TX13T78.

Mẫu TX13 này giá 230.000đ. Nó nặng chỉ 6g và được gai công từ Titanium nguyên khối với độ chính xác cao. Cơ chế đóng mở cũng dựa vào sự đàn hồi của vậy liệu luôn chứ không có lò xo ngoài nào hết.

Độ mở khá nhỏ, đủ để móc các món phụ kiện vào

Cái này không phù hợp để móc thẳng vào đỉa quần mà dùng để gắn các phụ kiện rồi kết nối với Carabiner chính.

Mẫu T78 này thì không phải mới, nhưng bán rất tốt nên mình cho vào đây luôn. Chiếc này nhỏ gọn, nặng 11g và được tích hợp 1 lưỡi nhỏ để rọc giấy.

Phần thân chính của T78 là Titanium dày dặn, còn lẫy và lưỡi rọc giấy là bằng thép. Độ mở của lẫy khá lớn nên có thể dùng làm Carabiner chính.

Một trong những chiếc móc khoá mình đánh giá cao nhất với giá chỉ 290.000đ

5. Móc khoá Titanium tháo lắp nhanh TX5

  • Giá bán: 320.000đ
  • Link mua hàng: CLICK

Trước đây mình có bán một mẫu móc tháo lắp nhanh bằng nam châm, đã test tải trọng ~ 500g ngon lành nhưng nhiều anh em vẫn sợ việc vô ý là rớt đồ.

Giờ mình chuyển hẳn qua mẫu TX5 này luôn, cũng là tháo lắp nhanh nhưng bằng cơ chế chốt gài, tuy không nhanh bằng nam châm nhưng được cái yên tâm tuyệt đối.

Khi tách ra thì bên trong có một đầu được làm rất nhọn, có thể dùng để cắt băng dính hay khi thùng.

Đi kèm là 2 móc tròn bằng thép.

6. Mở nắp chai Titanium TX20

  • Giá bán: 245.000đ
  • Link mua hàng: CLICK

Cái này thì cũng không có gì nhiều để giới thiệu, đơn giản là dụng cụ mở nắp chai được gia công từ Titanium nguyên khối, nặng ~ 11g.

Phần mũi cũng có thể dùng như 1 cây xà beng mini để nạy nắp hộp sơn, đinh cỡ nhỏ,…

7. Bút bi Titanium TX44

  • Giá bán: 490.000đ
  • Link mua hàng: CLICK

Mẫu bút này hoàn thiện ngon cây TR-G2 của Tacray mà giá cũng không cao hơn quá nhiều. Tổng chiều dài ~ 12cm và nặng 13g tính cả ruột mực.

Bút sử dụng cơ chế đóng mở dạng bolt-action và ruột mực chuẩn Parker.

Cái ruột đi kèm là hàng không tên tuổi, nhìn hơi phèn. Anh em dùng hết thì kiếm mấy cái ruột xịn hơn là ngon ngay!

Clip cài hơi cứng, còn đâu ok.

Review Sofirn HS41: đèn gù cấu hình khủng trong tầm giá 1 triệu!

0

Với ngân sách khoảng 1 triệu đồng, nếu anh em đang tìm một cây đèn đa năng – có thể cầm tay, đội đầu khi cần rảnh tay, và đủ mạnh để dùng cho mọi tình huống – thì Sofirn HS41 là cái tên cực đáng cân nhắc.

Đây là đèn pin gù có cấu hình ấn tượng trong tầm giá: 4000 Lumens, chiếu xa trên 300 mét, dùng pin sạc 21700, có cổng sạc Type-C hai chiều ngay trên thân.
Thật sự, đến giờ mình vẫn không hiểu vì sao Sofirn lại bán một cây đèn ngon như vậy chỉ với 1 triệu! Với những gì HS41 mang lại, giá khoảng 1,5 triệu vẫn hoàn toàn xứng đáng.

> Sofirn HS41 sẽ được bảo hành 1 năm chính hãng khi mua tại Bisu <


Danh mục bài viết:

  1. Video
  2. Thông số kĩ thuật
  3. Mở hộp và phụ kiện
  4. Kích thước và chất lượng hoàn thiện
  5. Thiết kế và tính năng
  6. Giao diện sử dụng
  7. Ánh sáng thực tế
  8. Thời lượng hoạt động
  9. Tổng kết

1. Video

2. Thông số kĩ thuật

  • Độ sáng cực đại: 4000 Lumens
  • Chiếu xa: 325 mét
  • Chip LED: Luminus SST20
  • Loại pin: 21700
  • Cổng sạc: Type-C
  • Sạc ngược cho các thiết bị khác qua cổng Type-C
  • Thân đèn bằng hợp kim nhôm hàng không cao cấp
  • Kích thước: 115 x 29mm
  • Trọng lượng: 79g (chưa tính pin)
  • Chống nướC: IP68

Bảo hành 1 năm chính hãng!

Thông số các mức sáng của đèn

3. Mở hộp và phụ kiện

Sofirn giờ đóng hộp chỉn chu và lịch sự hơn trước nhiều rồi.

HS41 được Sofirn bán trọn bộ đã kèm pin sạc 21700 cùng các phụ kiện khác như:

  • Dây đội đầu
  • Cáp sạc Type-C
  • Clip cài túi 2 chiều
  • 2 O-ring cao su dự phòng
  • HDSD

Dây đội đầu chất lượng ổn, mềm mại và thoáng khí. Tuy nhiên, cá nhân mình không thích kiểu ngàm cao su như này vì tháo lắp khá bất tiện, không linh hoạt như ngàm tháo nhanh của Fenix.

4. Kích thước và chất lượng hoàn thiện

Kích thước

Sofirn HS41 có kích thước tầm trung với thân đường kính 29mm và chiều dài 115mm.

Nó nặng ~ 155g khi lắp cả pin lẫn clip cài, còn khi gắn lên dây đeo trán thì tháo clip ra nhẹ được 8g.

Xét trên cả phương diện là đèn pin cầm tay lẫn đội đầu thì HS41 khá gọn nhẹ so với tương quan với cấu hình và các mẫu đèn khác trong phân khúc.

Thiết kế gù với công tắc đặt trên đỉnh làm cây này rất gắn gọn nhưng vẫn cho trải nghiệm cầm nắm và thao tác tốt. Nó phản ứng nhanh không thua gì đèn pin truyền thống với công tắc đuôi.

Đầu đèn cũng không quá to so với thân, bỏ túi không bị cấn.

Fenix HM70R nặng khoảng 200g cả pin.

Có nhiều anh em bảo nhìn HS41 hơi to để đeo trán nhưng thực tế nó còn nhẹ hơn của Fenix HM70R, HM71R tới 50g. 2 cây kia anh em vẫn dùng đi hang động phà phà thì không có lý gì HS41 lại không làm được.

Với mấy cây đèn cỡ này thì dây đeo sẽ có 1 đai phụ vòng qua đỉnh đầu giúp giữ chắc chắn và chống mỏi hơn.

Chất lượng hoàn thiện

Mình vẫn hay bảo anh em rằng đèn pin Sofirn có chất lượng hoàn thiện tốt so với giá bán, nhưng cây HS41 này thì nó ổn hơn nhiều so với giá bán 1 triệu.

Anh em cứ trải nghiệm nhiều đèn đóm đủ các phân khúc thì cầm cây này trên tay sẽ thấy ngay cái cảm giác cao cấp trong hoàn thiện của nó. Kiểu mỗi chi tiết được làm tốt hơn một chút nên tổng thể cây đèn trông xịn hơn hẳn.

Thân vỏ vẫn là hợp kim nhôm A6061-T6 được dùng trong sản xuất vỏ máy bay. Bề mặt ngoài xử lý mạ Anodzie để tăng độ cứng, chống xước và nhìn nó lịch sự hơn là để nhôm nguyên bản.

Các khe tản nhiệt làm rất dày.
  • Thân vỏ và các lá tản nhiệt khá dày dặn mà vẫn giữ được trọng lượng nhẹ

  • Ren vặn dạng vuông, ăn khớp mượt.

  • Lò xo dày, mạ vàng giảm nội trở.

  • Công tắc điện tử nhạy và chắc tay.

  • Nắp cổng sạc được làm chìm, không lo bị bật ra trong quá trình sử dụng.

5. Thiết kế và tính năng

Đa năng – Chiếu xa tốt

Đèn “gù” là ý chỉ thiết kế đèn pin có hệ thống quang học đặt vuông với với thân thay vì thẳng như truyền thống.

Nam châm đuôi của HS41 khá mạnh.

Có lẽ đây là kiểu đèn pin linh hoạt và thực dụng nhất khi có thể chiếu sáng ở nhiều góc linh hoạt mà đèn dạng thẳng phải bó tay, đặc biệt là gài balo hay dùng như đèn đeo trán để hoạt động rảnh tay. Với Sofirn HS41 thì đuôi còn có nam châm để hít lên kim loại.

Không phải tự nhiên mà đèn pin được cấp phát cho lính Mĩ trong chiến tranh Việt Nam cũng là dạng gù.

Một hạn chế cố hữu của đa số đèn pin gù là kích thước đầu đèn nhỏ nên không chiếu được quá xa, thường chỉ khoảng 100 mét quay đầu. Tuy nhiên HS41 lại là một ngoại lệ.

Nó có đầu đèn đường kính chỉ 29mm nhưng lại chiếu xa tới 325 mét theo thông số nhờ hệ thống quang học đặc biệt với 4 chip LED Luminus SST20.

  • SST20 là chip LED có tiết diện nhân nhỏ, cho ánh sáng gom tốt và đẹp nên là sự lựa chọn phổ biến cho đèn pin cỡ nhỏ. Công suất của loại LED này tối ưu ở khoảng 1000 Lumens quay đầu.
  • HS41 sử dụng kết hợp 4 chip để đảm bảo hiệu suất tốt, kết hợp với thấu kính TIR đem lại tầm chiếu xa tốt nhất trong 1 đầu đèn gọn nhất có thể.

Tầm chiếu hiệu quả của HS41 dễ dàng đạt ~ 150 mét, quá đủ cho các nhu cầu chiếu sáng cơ bản ngoài trời.

Có thể thấy beam sáng đẹp, tròn trịa, gần như không có vùng nhiễu.

Sofirn trang bị cho nó tới 6 mức sáng và 3 chế độ nháy, nghe qua thì thấy khá là rối nhưng thực tế ở giao diện chính sẽ chỉ có 3 mức sáng cơ bản, còn các chế độ khác là ẩn, được kích hoạt qua các thao tác đặc biệt.

Mới đầu khi nhìn vào cách chia độ sáng của HS41 thì mình thấy lạ là sao không có mức 1000 Lumens mà thay vào đó là 5001500 Lumens? Cái này mình sẽ phân tích rõ hơn khi test ánh sáng thực tế.

Pin và cổng sạc

Mình là tín đồ của pin sạc cỡ 18650 bởi sự cân bằng giữa kích thước và dung lượng của nó. Nhưng không thể phủ nhận rằng với những anh em có nhu cầu sử dụng đèn cường độ cao và liên tục thì phải pin 21700 mới đủ thoải mái được.

Nếu như ngày trước muốn dung lượng cao hơn pin 18650 thì anh em phải dùng tới cỡ 26650 cồng kềnh thì sự ra đời của pin 21700 đúng là một cuộc cách mạng. Với kích thước lớn hơn khoảng 20% nhưng loại pin này cho dung lượng tăng tới 4-50% so với 18650.

Sofirn HS41 đi kèm pin 21700 có dung lượng 5000mAh, đủ cho nó duy trì gần 4 tiếng ở 500 Lumens hay hơn 3 tiếng ở 1500 Lumens. Tất nhiên đây là theo thông số của hãng, mình sẽ đo lại thực tế ở phần dưới.

Đáng chú ý là mức 150 Lumens có thể kéo tới 11 tiếng liên tục, đây là độ sáng ổn để dùng trong nhà và nhẹ nhàng ngoài trời.

Pin được sạc trực tiếp qua cổng Type-C đặt phía sau đầu đèn với tốc độ khá nhanh khoảng > 12W.

Bất ngờ hơn nữa là cổng Type-C này còn có chức năng sạc ngược cho các thiết bị khác với công suất gần 15W. Để dùng được tính năng này thì anh em phải có cáp 2 đầu Type-C hoặc Type-C sang Lightning.

Khả năng sạc 2 chiều ở tốc độ khá nhanh là một tính năng mình không nghĩ tới ở một cây đèn có mức giá khoảng 1 triệu. Tất nhiên công dụng chính của HS41 vẫn là chiếu sáng nên mình sẽ không lạm dụng tính năng sạc dự phòng của nó kẻo lúc cần thì lại hết pin. Nhưng dùng sao viên pin 21700 cũng có dung lượng khá dư giả và đây là một tính năng cứu nguy tuyệt vời trong các tình huống cấp bách.

Công tắc chính cũng kiêm luôn đèn báo dung lượng pin. Khỏi cần đọc hướng dẫn thì cũng biết đèn xanh là pin đầy và đỏ là sắp hết.

Và khi pin gần cạn thì cây HS41 này còn có tính năng rung để báo hiệu y hệt dòng Warrior của Olight.

6. Giao diện sử dụng

Điểm cộng của Sofirn là họ học hỏi những các hay trong giao diện sử dụng của nhiều hãng rồi kết hợp lại, nhưng phần lớn mình thấy là giống Olight, cây HS41 này cũng không phải ngoại lệ. Anh em dùng dòng Olight Perun và chuyển qua cây này thì thấy quen thuộc cũng đừng bất ngờ!

Mọi thao tác của đèn đều được thực hiện qua công tắc chính đặt trên đỉnh:

  • Nhấn 1 lần: Bật / tắt
  • Giữ khi bật: Chuyển 3 mức 10 – 150 – 500 Lumens
  • Giữ khi tắt: Moonlight 1 Lumen
  • Nhấn 2 lần: 1500 Lumens
  • Nhấn 4 lần: 4000 Lumens (Turbo)
  • Nhấn 3 lần: Chế độ nháy (Strobe / SOS / Beacon)
  • Nhấn 4 lần khi tắt: Khoá an toàn

Ngoài ra còn có chế độ sáng vô cấp: nhấn 4 lần khi đèn bật, sau đó độ sáng tăng giảm mượt trong dải 1–1500 Lumens.

=> Lại một lần nữa, Sofirn HS41 khiến mình bất ngờ với một giao diện sử dụng thông minh trong mức giá 1 triệu đồng. Có những chi tiết thể hiện rõ sự tinh tế chẳng hạn như phải nhấn tới 4 lần để kích hoạt 4000 Lumens, tránh lạm dụng khiến đèn nóng và nhanh hết pin.

Tiếp đến là truy cập nhanh Moonlight 1 Lumens ngay cả khi ở chế độ khoá. Đây là một mức sáng vừa đủ để tìm đồ trong balo, cốp xe hay soi đường khi tỉnh dậy giữa đêm mà không gây chói mắt. Chế độ sáng vô cấp cũng rất mượt, không bị khựng.

7. Ánh sáng thực tế

4000 Lumens

HS41 đạt tầm chiếu xa 325 mét ở Turbo 4000 Lumens. Ánh sáng có độ gom tốt cho một đầu đèn đường kính 29mm và vùng toả cũng ổn.

Sofirn HS41 – 4000 Lumens
Sofirn HS41 – 4000 Lumens

Ở 4000 Lumens thì đèn nóng cực nhanh nên hãng mới thiết kế nhấn 4 lần để truy cập nó.

1500 Lumens 

Còn nhấn 2 lần thì lên 1500 Lumens, mức này chiếu xa 212 mét theo thông số và hiệu quả trong 100 mét đổ lại.

Sofirn HS41 – 1500 Lumens

1500 Lumens vẫn là hơi cao so với kích thước thân của HS41 nên nó vẫn hạ sau khi bật nhưng không nhanh như Turbo.

500 Lumens

Đây là mức sáng chính và ổn định nhất của HS41 với tầm chiếu xa theo thông số đạt 123 mét và runtime 3.17 tiếng.

Sofirn HS41 – 500 Lumens

Anh em có thể thấy tầm nhìn của 500 Lumens quá ổn cho các hoạt động chiếu sáng ngoài trời mà lại không làm đèn quá nóng. Đây là lý do chính Sofirn bỏ mức 1000 Lumens trên cây này.

150 Lumens

150 Lumens duy trì được 11 tiếng liên tục theo và chiếu xa 71 mét theo thông số. Ánh sáng gom tốt cho tầm nhìn như ở ~ 300 Lumens, dư sức đi rừng hay đi bộ đường dài.

Sofirn HS41 – 150 Lumens
Sofirn HS41 – 150 Lumens

150 Lumens dùng trong nhà cũng ổn, không bị quá sáng.

10 Lumens

Sofirn HS41 – 10 Lumens

Mức này đủ dùng tầm gần trong nhà hay sinh hoạt quanh khu trại với runtime tới 172 tiếng ~ 7 ngày liên tục

1 Lumens 

Đừng coi thường 1 Lumens, khi mắt đang quen với bóng tối hoàn toàn thì độ sáng là đủ để làm ối việc như đọc bản đồ hay soi tầm gần mà không gây chói mắt.

1 Lumens của HS41 sáng liên tục tới ~ 30 ngày, hoàn hảo cho các tình huống sinh tồn.

Sofirn HS41 – 1 Lumens
Sofirn HS41 – 1 Lumens

8. Thời lượng hoạt động

Mình đo runtime thực tế của đèn ở 3 mức sáng cao nhất với nhiệt độ phòng ~ 25ºC và sử dụng 1 quạt nhỏ hỗ trợ tản nhiệt.

Turbo 4000 Lumens:

  • Bắt đầu hạ sáng ngay từ khi bật, hạ xuống ~ 15% độ sáng ban đầu trong 1 phút đầu tiên
  • Trong suốt 250 phút tiếp theo thì duy trì ổn định độ sáng này, tương đương 4-500 Lumens và tắt ở phút 253
  • Tổng Runtime đạt 4.2 tiếng, cao hơn thông số là 3 tiếng

High 1500 Lumens:

  • Cũng bắt đầu hạ sáng từ khi bật nhưng không quá gắt, sau 2 phút thì hạ xuống 10-15% độ sáng ban đầu như Turbo
  • Duy trì ổn định 4-500 Lumens tới khi hết pin, tắt ở 252 phút
  • Runtime cũng ngang mức Turbo, cao hơn thông số là 3.17 tiếng.

Medium 500 Lumens:

  • Duy trì ổn định gần như không giảm đáng kể trong suốt ~5,5 giờ (≈ 329 phút).
  • Runtime thực tế cao hơn thông số là 3.67 tiếng.

=> Với pin 21700 và thân đèn dày thì Sofirn HS41 hoàn toàn có khả năng duy trì ổn định ở khoảng 800 – 1000 lumens, nhưng qua thử nghiệm beamshot, mức 500 lumens đã cho tầm chiếu rất tốt và đủ sáng cho hầu hết các tình huống sử dụng thực tế.

Vì vậy, có thể thấy Sofirn đã chủ đích tối ưu HS41 để hạ xuống mức 500 lumens sau khi giảm nhiệt, nhằm cân bằng giữa độ sáng hiệu quả và thời lượng pin dài hơn, giúp đèn duy trì hiệu suất ổn định trong thời gian sử dụng dài.

Nhiệt độ thân đèn khi bật liên tục ở 500 Lumens.

Sau khoảng 30 phút bật liên tục ở 500 Lumens thì nhiệt độ thân đèn vẫn dưới 50°C, không quá nóng để cầm.

9. Tổng kết

Tới đây thì chắc anh em đều đồng ý với mình rằng Sofirn HS41 mang lại giá trị vuợt trội so với giá bán, từ chất lượng hoàn thiện, hiệu năng chiếu sáng, giao diện sử dụng cho tới các tính năng phụ trợ khác.

Khả năng chiếu xa tốt là một lợi thế lớn, đem lại sự linh hoạt tốt cho những anh em sử dụng cây này như đèn chiếu sáng chính ở ngoài trời.

Dù không có ánh sáng đỏ và dây đeo đầu tháo lắp hơi bất tiện nhưng nhìn chung HS41 vẫn đáp ứng tốt được vai trò này.

Từ lab đến thực tế: Vì sao cần đo lại thông số đèn pin?

0

Hello anh em,

Gần đây mình nhận được một số phản hồi liên quan đến biểu đồ runtime trong các bài review đèn pin mà mình thực hiện. Một số anh em cho rằng kết quả đo của mình không khớp với thông số hãng công bố (cụ thể là Fenix TK35R), nên nghi ngờ độ chính xác của phương pháp đo.

Phần lớn ý kiến này dựa trên trải nghiệm cá nhân và cảm nhận thực tế, thay vì đo đạc bằng thiết bị. Điều này khiến mình suy nghĩ khá nhiều, và dần dần, cuộc tranh luận xoay quanh một logic khá nhạy cảm:

  • Nếu kết quả mình đo là đúng → Hãng công bố sai.

  • Nếu hãng đúng → Mình sai.

Thậm trí có người còn nói nếu mình tin thông số của hãng đưa ra thì tại sao không đưa luôn cái biểu đồ của hãng vài bài Review? Nghe xong chán luôn, lại dậy bật máy lóc cóc gõ bài lúc 2h sáng…

Mình không muốn tranh cãi theo hướng đúng/sai tuyệt đối, mà muốn nhân dịp này chia sẻ kỹ hơn về cách mình làm review kỹ thuật, và đặt lại câu hỏi mà mình thấy đáng để anh em cùng suy nghĩ:

“Đo thực tế và trải nghiệm cá nhân – cái nào đáng tin hơn trong đánh giá đèn pin?”

Mỗi người sẽ có câu trả lời khác nhau, còn phần dưới đây là góc nhìn cá nhân của mình — với tư cách một reviewer độc lập, luôn cố gắng giữ trung lập và minh bạch nhất có thể.

1. Mình có tin thông số runtime của hãng không (cụ thể là Fenix)?

– Trả lời: có, nhưng chỉ để tham khảo và sẽ luôn là như vậy.

  • “Nếu đã tin tuyệt đối vào biểu đồ runtime của hãng, thì cần gì phải có reviewer nữa?”
    Mình nói câu này không phải để vặn vẹo ai, mà để nhắc lại một sự thật đơn giản: review tồn tại là để kiểm chứng, không phải để sao chép.
  • Nếu chỉ bê thẳng biểu đồ Runtime của hãng vào rồi phân tích thì 1 tuần mình review được 10 con đèn bởi nó rất nhàn, thay vì 1 tuần/cây như bây giờ. Nhưng liệu lúc đó anh em có thèm tin và xem Review của mình không?

Trong cuốn Thinking, Fast and Slow, Daniel Kahneman gọi đây là một dạng authority bias – khi con người có xu hướng mặc định tin vào những gì được gắn mác “chính thống”, “có thẩm quyền”, mà không cần kiểm tra lại.

  • Thông số hãng không sai – nhưng chúng thường được đo trong điều kiện tối ưu, bằng thiết bị của họ, với mẫu đèn họ chọn. Mình tin vào thông số của hãng nhưng chỉ ở mức độ tham khảo.
  • Còn mình, là reviewer độc lập, đo lại mọi thứ trong điều kiện sử dụng thực tế: nhiệt độ phòng, pin chuẩn theo đèn, log bằng máy đo lux và phần mềm chuyên dụng. Mình không bán sự tuyệt đối – mình đưa ra một góc nhìn thực tế.

Bạn có thể tin hãng. Bạn cũng có thể tin cảm nhận cá nhân. Nhưng nếu không phân biệt được đâu là dữ liệu, đâu là cảm xúc, thì rất dễ đánh giá sai một sản phẩm – hoặc tệ hơn, đánh giá sai cả người làm review.

Cụ thể đối với hãng Fenix, đây luôn luôn là ghi chú được hãng đặt ở dưới mỗi bảng thông số runtime của đèn, dịch chuẩn là:

“Lưu ý: Theo tiêu chuẩn ANSI/PLATO FL1, các thông số kỹ thuật nêu trên được lấy từ kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm của Fenix, sử dụng một pin Fenix ARB-L21-6000B ở nhiệt độ 21±3°C và độ ẩm từ 50% – 80%. Hiệu suất thực tế của sản phẩm có thể thay đổi tùy theo môi trường làm việc và loại pin được sử dụng.

*Độ sáng “Burst” được tính trong tổng thời gian hoạt động, bao gồm cả thời gian thiết bị tự giảm sáng do nhiệt độ hoặc cơ chế bảo vệ trong thiết kế.”

Hãy để ý vào những đoạn mình bôi đậm, bạn sẽ rút ra được 2 điều:

  • Thứ nhất: Fenix đo runtime trong phòng thí nghiệm của riêng họ, không phải của 1 tổ chức nào được quốc tế công nhận rộng rãi. Mình không biết cái phòng đấy như nào, rất khó mô phỏng lại được và cả các Reviewers khác cũng vậy.
  • Thứ hai: Kết quả đo của hãng cũng có dung sai (nhiệt độ 21±3°C), (độ ẩm từ 50% – 80%)

Suy cho cùng thì đèn pin vẫn chỉ là công cụ chiếu sáng, không bị kiểm soát quá khắt khe. Dù các thông số sử dụng tiêu chuẩn ANSI/PLATO FL1″ được chấp nhận rộng rãi thì cũng không có tổ chức uy tín nào cử người đến từng hãng đèn để dám sát chất lượng sản phẩm hay cao siêu hơn là set up một phòng lab chuẩn chỉ và bắt các hãng phải làm y hệt như vậy hoặc chặt chẽ hơn nữa là phải gửi đèn đến cho họ đo.

Mà bây giờ đồ gì chả thế, từ xe cộ máy bay,… thì thông số hãng đưa ra chỉ là để tham khảo thôi!

=> Kết luận được mấy điều:

  • Thông số của Fenix rất đáng tin, nhưng không phải tuyệt đối, nhưng về cơ bản là có thể mua đèn Fenix về rồi kê cao gối ngủ ngon.
  • Mình thấy xã hội và thị trường vận hành dựa trên niềm tin, anh em đọc bài và mua đèn của mình là vì tin mình, vậy nên mình phải nói có sách mách có chứng, dù không hoàn hảo nhưng không “mõm”.

2. Mình có thiên vị (bias) không? 

– Chắc chắn là CÓ!

  • Mình không phủ nhận rằng review luôn có cảm xúc – mình cũng có bias như bao người. Mình thích cây đèn nào thiết kế đẹp, runtime tốt, driver thông minh – thì mình nói tốt về nó. Mà nói thật viết mà không có cảm xúc thì ma nó đọc!
  • Nhưng khác biệt là: mình dựa trên số liệu để tạo ra lập luận, chứ không dựa vào cảm giác cá nhân rồi áp đặt người khác phải tin theo. Nó chẳng khác nào kiểu sáng ra thấy khó ở thì viết tầm bậy tầm bạ về 1 cây đèn ngon, rồi chiều thấy vui lại tâng bốc một cây đèn dở ẹc!
  • Mình còn đang bị một vấn đề là đèn nào test thông số dở quá thì mình không thèm viết luôn cho đỡ tốn thời gian, nhưng sắp tới sẽ có một bài nhé!

=> Review có cảm xúc là chuyện bình thường. Review mất dạy là khi cảm xúc che lấp cả sự thật, thậm trí là thao túng cả kết quả đo đạc chỉ để bán được hàng!

3. Mình đo runtime của đèn kiểu gì?

Có thể các bạn không tin, nhưng nhiều người vẫn nghĩ mình bật đèn lên chiếu vào tường, quay timelapse rồi tự vẽ được ra cái biểu đồ runtime như này.

Thì đây để mình cho các bạn xem một góc mình chuyên để đo runtime đèn, nó cũng không có gì quá ghê gớm đâu nhưng ít nhất là đáng tin hơn cảm xúc của con người:

Đây là cái máy đo Lux mã 1336A của hãng TES, được sản xuất tại Taiwan. Lý do dùng cái máy là đơn giản là nhiều năm trước Sếp mình có sang thăm phòng lab của Olight và thấy họ dùng đúng model này nên mua theo luôn.

  • Máy này được kết nối với máy tính và có phần mềm chuyên dụng để ghi và xuất file kết quả ra. Mình sẽ dựa vào file đó, chép vào excel và xuất ra biểu đồ.
  • Đây là máy đo LUX, không phải đo Lumens.
    • Lux (ký hiệu: lx) là đơn vị đo độ rọi, hay còn gọi là cường độ ánh sáng, trong hệ đo lường quốc tế (SI)Nó thể hiện mật độ ánh sáng trên một bề mặt, cụ thể là lượng ánh sáng (tính bằng lumen) chiếu trên một mét vuông diện tích. Nói cách khác, lux cho biết mức độ sáng mà mắt người cảm nhận được tại một vị trí cụ thể

Đây là một cái hộp tản sáng, mình tự chế thôi chứ không có gì ghê gớm đâu, bên trong nhựa trắng, bên ngoài phủ sơn đen cho ánh sáng không lọt ra ngoài. Nhiệm vụ của nó là tản đều ánh sáng ra rồi đưa một lượng nhỏ vào sensor của máy đo.

Tại sao phải dùng hộp tản sáng này? 

  • Đèn pin LED phát ánh sáng rất định hướng (kiểu beam shot có hot spot, corona, spill…).
    Nếu đặt trực tiếp cảm biến vào chùm sáng thì:
    • Góc đặt sẽ ảnh hưởng mạnh tới kết quả.

    • Tâm sáng có thể làm cảm biến nhận quá nhiều, gây quá tải

→ Dùng quả cầu tích hợp hoặc ống tản sáng sẽ khuếch tán ánh sáng, làm cho toàn bộ chùm sáng trở thành một nguồn sáng đồng đều. Nhờ đó, máy đo (lux sensor) sẽ nhận tín hiệu ổn định và không bị lệch bởi vị trí.

  • Tối ưu cho cảm biến đo Lux đặt ở một điểm cố định
    • Trong sphere hoặc ống, cảm biến chỉ cần nằm ở một vị trí duy nhất.
    • Không cần canh chỉnh liên tục để đèn rọi đúng vào sensor.
    • Loại bỏ được sai số người dùng

Như các hãng đèn là họ dùng quả cầu này với kích thước và lớp phủ chuẩn, còn Reviewer độc lập như mình chỉ chơi được tới mức này thôi. Các Reviewer khác bên nước ngoài cũng chế mấy cái tản sáng bằng ống PVC hoặc cũng chế được dạng cầu.

Thậm trí bây giờ còn có nguyên một kit chuyên dụng để test độ sáng (lumen) và runtime của đèn pin như thế này, trông quá xịn. Anh em đợi mình xin Sếp đầu tư bộ này :)))

4. Kết quả đo của mình có chuẩn không?

Mình xin trả lời thẳng là: không tuyệt đối. Nhưng đủ tin cậy để dùng trong review kỹ thuật. Và chắc chắn là đáng tin hơn việc nhìn bằng mắt để so sánh độ sáng giữa 2 cây đèn có beam khác hẳn nhau!

Vì sao?

  • Thứ nhất, mình không có phòng lab tiêu chuẩn quốc tế. Mình không có quả cầu tích hợp giá vài trăm đô hay hệ thống kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm như trong phòng test của hãng. Nhưng mình có một setup đủ ổn định, kiểm soát được sai số, và minh bạch về cách đo.

Mình đo bằng máy đo lux TES-1336A, gắn vào phần mềm ghi log, đặt trong hộp tản sáng tự chế. Điều mình đo được là lux theo thời gian.

  • Mình không đo lumen tuyệt đối — thay vào đó, mình dùng một điểm tham chiếu từ chính setup này. Ví dụ: khi bật đèn ở mức được hãng công bố là 1500 lumens, hộp đo được khoảng 50 lux. Vậy mình sẽ mặc định rằng 50 lux trong setup này = 1500 lumens (nhấn mạnh là chỉ áp dụng cho duy nhất 1 cây đèn tại thời điểm đo), và từ đó suy ra các mức lumen tương đối khác dựa trên giá trị lux theo thời gian.

Đây là phương pháp tương đối, nhưng hợp lý để dựng biểu đồ runtime. Vì cái mình cần là sự thay đổi độ sáng theo thời gian, chứ không phải số lumen chính xác từng đơn vị. Mình biết giới hạn của thiết bị nên không đưa thêm bước kiểm chứng Lumens thực tế vào bài viết.

Vậy sai số nằm ở đâu?

  • Điểm gốc (ví dụ 1500 lm = 50 lux) là giả định — nên nếu lúc bật turbo mà đèn đã stepdown nhẹ, thì gốc có thể lệch chút.

  • Hộp tản sáng không lý tưởng, phản xạ ánh sáng có thể không hoàn toàn đều ở các mức sáng khác nhau.

  • Cảm biến lux cũng không hoàn hảo, nhất là ở mức sáng rất yếu hoặc quá mạnh.

Tổng sai số mình ước tính vào khoảng ±10%, nhưng quan trọng là nó nhất quán giữa các bài test, và phản ánh đúng quá trình giảm sáng – điều mà mắt thường gần như không thể cảm nhận chính xác được.

Mình không nói kết quả mình đo ra là chân lý. Nhưng nó được tạo ra bằng thiết bị thật, quy trình rõ ràng, và không bị chi phối bởi cảm xúc (thực ra là có bởi kết quả tệ quá mình còn không thèm viết bài luôn vì tụt mood).

Bây giờ bạn bật 1 cây đèn vào tường rồi nhìn nó 10 phút và bảo nó hạ từ XX Lumens -> YY Lumens xong quay ra chê máy đo không chuẩn thì bạn là thánh rồi! Có con số thì hãy nói chuyện.


Quay lại cây Fenix TK35R, khởi nguồn của bài viết này.

Nhìn vào biểu đồ runtime, cụ thể ở mức High (2000 Lumens), đèn duy trì được khoảng 5 phút, sau đó tụt xuống còn ~13%. Theo phương pháp mình đã giải thích ở trên, mức sáng này tương đương khoảng 750 lumens.

Với kết quả này, nhiều anh em có thể sẽ chê TK35R vì:

  • Là đèn 2 pin18650.

  • Dùng LED SFT25R đời mới.

  • Vỏ nhôm dày, tản nhiệt tốt.

→ Vậy mà vẫn không giữ nổi trên 1000 lumens ổn định, thậm chí thua cả nhiều cây 1 pin 21700.

Mình hiểu, và thật ra mình đồng ý với một phần nhận xét đó.

Tuy nhiên, như một người bạn cũng đã phân tích — và mình thấy hoàn toàn hợp lý:
Nếu đặt TK35R cạnh các mẫu như Fenix TK35 UE (bản cũ) hay Acebeam X20R, thì đúng là nó kém hơn về khả năng duy trì độ sáng cao, nhưng lại:

  • Runtime dài hơn gấp đôi.

  • Chiếu xa tương đương hoặc tốt hơn, dù dùng độ sáng thấp hơn.

Mấu chốt nằm ở đâu?

Ở thiết kế beam:

Beam sáng của TK35R được tối ưu rất tốt nên không cần phải Lumens quá cao.
  • Ở mức 800 lumens, TK35R chiếu được 230 mét.
  • Trong khi đó, Acebeam X20R ở 2100 lumens cũng chỉ đạt 180 mét.

Nói cách khác: TK35R tạo ra chùm sáng gom và hiệu quả hơn, nên cần ít lumen hơn để đạt cùng (hoặc xa hơn) khoảng chiếu.

Fenix rõ ràng thiết kế TK35R để đạt hiệu quả tối đa trong chiếu xa, chứ không chạy đua theo chỉ số lumen choáng ngợp.

  • Và khi đánh giá một cây đèn pin, đừng chỉ nhìn vào con số lumens.
    Giá trị thật sự nằm ở hiệu năng sử dụng – beam đi xa, runtime đủ lâu, ít nóng và tiết kiệm pin.
  • Đấy là chưa kể tới việc thông số mình đo ra sẽ có sai số, thực tế thì có thể mức 2000 Lumens sẽ hạ xuống một độ sáng cao hơn mức mình đo (khoảng 1000 Lumens) hoặc thấp hơn. Hiện tại hạn chế về kĩ thuật không cho phép mình kiểm chứng điều đó, nhưng về cơ bản 800 hay 1000 Lumens cũng không lệch quá nhiều. Hiện mình cũng đang hóng các Reviewers nước ngoài viết về cây này để xem họ đo ra bao nhiêu.

  • Okay, bây giờ cứ cho rằng kết quả của mình về TK35R có sai số nhiều hơn các cây khác, và thực tế 2000 Lumens nó hạ xuống ~ 1000 Lumens thay vì 800 Lumens. Nhưng hãy nhìn vào thông số hãng đưa ra và bạn sẽ nhận thấy một vấn đề:
  • Thoạt nhìn biểu đồ runtime, có vẻ như TK35R có cách chia mức sáng khá thừa thãi – cụ thể là mức MED (800 lumens) gần như trùng với mức sáng thực tế sau khi HIGH (2000 lumens) stepdown (hạ sáng). Nếu HIGH đã hạ về ~1000 lumens, thì MID 800 lumens có còn cần thiết?
  • Cái này thì chỉ có thể giải thích là do tư duy thiết kế của hãng như vậy. Đèn pin Fenix sử dụng linh kiện cao cấp nhất thị trường, họ thừa sức cho cây TK35R kéo ổn định > 1000 Lumens tới hết pin luôn. Nhưng một lần nữa, Fenix đề cao hiệu năng tổng thể hơn và duy trì Lumens cao ngất ngưởng, điều đó là không cần thiết với cây đèn được thiết kế chiếu xa tốt như TK35R.

Theo mình hiểu thì Fenix cũng không muốn nhét 2000 Lumens vào làm gì đâu bởi suy cho cùng đây là độ sáng không hiệu quả với đèn chạy 2 pin 18650, nếu dùng 2 viên 21700 như LR36R thì lại là câu chuyện khác. Họ vẫn phải cho 2000 Lumens vào để dùng trong thời gian ngắn khi cần, còn bản chất TK35R vẫn là ổn định nhất ở ~ 800 – 1000 Lumens.

Còn so sánh Fenix TK35R với Acebeam X20R thì mình thấy không hợp lý bởi 2 hãng này khác hẳn nhau về tư duy và triết lý thiết kế sản phẩm.

  • Fenix luôn tập trung vào chất lượng tổng thể và chất lượng hoàn thiện của đèn pin Fenix thuộc top 1 trên thị trường. Cây đèn sáng nhất hiện tại của Fenix là LR60R chỉ đạt 21.000 Lumens. Bạn có thể so đèn pin Fenix như một chiếc Honda Camry ấy, phải trải nghiệm nhiều với hiểu được giá trị!
  • Acebeam cũng là hãng đèn tốt nhưng họ muốn đánh mạnh vào độ sáng cao còn trước mình cũng bán Acebeam rồi, chất lượng hoàn thiện ở mức khá thôi, vậy nên ai muốn chơi đèn kiểu chạy thông số thì nên chọn Acebeam. Anh em chơi Acebeam giống như chạy phân khối lớn, quay sang nhìn Camry thì chê là đúng rồi!

Như Acebeam X20R họ dùng 8 chip SFT25R nên tổng độ sáng rất khủng, nhưng tầm chiếu xa chỉ ngang TK35R thôi, khả năng nhìn bao quát thì mình thấy TK35R cũng không hề tệ.

  • Biểu đồ runtime của X20R rất ấn tượng với khả năng kéo 1800 Lumens trong hơn 1 tiếng trước khi hạ xuống 150 Lumens. Mình chưa dùng cây này nhưng anh em đang dùng thì xác nhận hộ mình xem sau 15 phút ở mức đấy có cầm nổi bằng tay trần không? Hoặc cầm có thoải mái trong suốt gần 2 tiếng không?

5. Tổng kết

Khách quan mà nói, mình rất cảm ơn những anh em đã góp ý và tranh luận, vì chính điều đó giúp mình hiểu ra một câu hỏi bấy lâu chưa có lời giải:

“Tại sao cây TK35R ngon thế mà lại ế?”

  • Thật sự luôn — từ thiết kế, giao diện cho tới hiệu năng, con đèn này quá tối ưu. Vậy mà vẫn không được nhiều người chọn mua?
  • Thậm chí có anh em còn comment dưới video rằng nó thua xa Acebeam X20R, mà mình thì không hiểu nó thua ở điểm nào.
    Giờ mới vỡ lẽ — anh em đánh giá hiệu năng dựa trên chỉ số lumen nhìn thấy, mà không nhìn vào cách beam sáng hoạt động thực tế.
    → Hiểu nhầm nằm ở chỗ đó.

Cá nhân mình, vì đã dùng và đánh giá rất nhiều đèn, nên đôi khi mặc định rằng mọi người sẽ hiểu cách Fenix tối ưu hiệu suất ánh sáng bằng cách hạ độ sáng xuống mức hợp lý (~800–1000 lumens). Đấy còn chưa kể giờ các hãng chạy đua Lumens kinh khủng quá nên nhiều người coi thường cái mức ~ 1000 Lumens, chứ thực tế nó là một độ sáng rất chuẩn mực đó!

Đây cũng là cái hạn chế của việc viết Review mà dựa quá nhiều vào yếu tố kĩ thuật. Mình cũng xin rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng bài viết sau này. Bên cạnh đó mình cũng sẽ cố gắng nâng cấp thiết bị đo đạc để cho anh em tin tưởng hơn. Cảm ơn mọi người đã đồng hành suốt một chặng đường dài!

Leatherman hứng gạch đá sau khi ra mắt dòng sản phẩm mới.

0

Vừa qua, Leatherman – thương hiệu nổi tiếng toàn cầu với các dụng cụ đa năng (multi-tool) – đã chính thức ra mắt dòng sản phẩm dao gập mới. Tuy nhiên, thay vì nhận được sự đón nhận tích cực, hãng lại phải đối mặt với làn sóng chỉ trích từ cộng đồng người dùng trung thành. Điều gì đã khiến một cái tên lớn như Leatherman “hứng gạch” từ chính những người từng yêu mến mình?

Trước hết hãy cùng xem Leatherman đem tới những gì trong đợt ra mắt mới này:

Tổng cộng là 3 mẫu dao fixed và 2 mẫu dao gập mới, không có bóng dáng một dụng cụ đa năng nào.

1. Leatherman Glider (dao gập)

  • Lưỡi dao dạng sheepsfoot dài 3 inch, mài hollow grind.
  • Cơ chế khóa Compression Wedge Lock tương tự Blazer.
  • Thiết kế tối giản với chỉ 12 linh kiện, tay cầm bằng thép không gỉ 416.
  • Trọng lượng: 3.7 oz.
  • Giá bán lẻ: $299.95 USD.

2. Leatherman BLAZER (dao gập)

  • Lưỡi dao dạng drop point dài 3.15 inch, mài hollow saber grind.
  • Cơ chế khóa Compression Wedge Lock (đang chờ cấp bằng sáng chế), kết hợp ưu điểm của button lock và compression lock.
  • Tay cầm bằng thép không gỉ 416, có thể tùy chọn lớp phủ Cerakote (màu Alpine hoặc Denim).
  • Trọng lượng: 3.7 oz (khoảng 105g).
  • Giá bán lẻ: $299.95 USD.

3. Leathermna PIONEER (dao fixed)

  • Lưỡi dao dạng tanto dài 5 inch, thiết kế theo phong cách Nhật Bản.
  • Tay cầm bằng G10, thiết kế full tang cho độ bền cao.
  • Kèm theo bao dao hybrid làm từ da thật và Kydex.
  • Trọng lượng: khoảng 8.3 oz.
  • Giá bán lẻ: $299.95 USD.

4. Leatherman TRAC (dao fixed)

  • Lưỡi dao dạng drop point dài 4.2 inch, phù hợp cho hoạt động bushcraft.
  • Tay cầm bằng G10, kèm theo bao dao bằng da thật.
  • Trọng lượng: 6.4 oz.
  • Giá bán lẻ: $299.95 USD.

5. Leatherman Rustle (dao fixed)

  • Lưỡi dao dạng santoku dài 4 inch, thiết kế tối ưu cho việc chuẩn bị thực phẩm ngoài trời.
  • Tay cầm bằng G10, kèm theo bao dao bằng Kydex.
  • Trọng lượng: 4.3 oz.
  • Giá bán lẻ: $279.95 USD

Phản ứng từ cộng đồng

Ngay sau khi tung ra dòng sản phẩm mới thì Leatherman ăn mưa gạch đá từ cộng đồng người chơi EDC và fan trung thành của Leatherman bấy lâu nay.

Làn sóng này đặc biệt mạnh ở cộng đồng Leatherman với hơn 64.000 thành viên trên mạng xã hội Reddit. Các bạn có thể vào xem tại ĐÂY.

Cũng có nhiều phản hồi tích cực tỏ ra thích thú với các sản phẩm mới này. Có thông tin còn cho thấy rằng cây Leatherman RUSTLE được bán hết sạch tại Anh.

 

Nhưng phần lớn đều là ý kiến trái chiều. Mình tìm được 1 bình luận này tóm tắt được khá chuẩn sự ý kiến của các thành viên, tạm dịch:

“Trên thị trường có khoảng hơn 100 thương hiệu mà tôi sẽ chọn để mua 1 con dao fixed trước khi để mắt tới Leatherman, đấy là còn chưa kể đến các thợ thủ công quy mô nhỏ khác. Leatherman từ trước giờ được biết tới là một công ty sản xuất dụng cụ đa năng, vậy mà bây giờ họ chuyển qua làm dao và quay ngược lại “chê” kìm đa năng là quá phức tạp?”

Trong bài viết trên trang chính thức của Leatherman giới thiệu dòng dao mới – “Leatherman Knives: Meet the Fam” – Leatherman không trực tiếp nói rằng multi-tool (dụng cụ đa năng) là “phức tạp”, nhưng có một đoạn được hiểu là đang cố gắng “tách mình” ra khỏi hình ảnh chỉ là hãng multi-tool:

“Một số người có thể nói rằng: chỉ làm một con dao thì không phải là việc của Leatherman. Điều đó đúng. Nhưng điều chúng tôi thực sự làm là tạo ra những sản phẩm giúp bạn giải quyết vấn đề, khám phá, và theo đuổi đam mê – và chúng tôi tiếp tục làm điều đó với dòng dao mới này.”

Câu này khiến nhiều người dùng, đặc biệt là fan lâu năm của Leatherman, cảm thấy công ty đang đánh mất bản sắc vốn gắn liền với multi-tool – tức là các dụng cụ đa năng nhỏ gọn, linh hoạt. Trong khi đó, quảng bá dòng dao gập mới lại theo hướng “tối giản, chuyên dụng”, làm một số người hiểu nhầm là Leatherman đang ám chỉ multi-tool là rườm rà hoặc lỗi thời.


Tóm lại

Đây là các lý do chính khiến Leatherman ăn gạch:

  1. Giá quá cao: Với mức giá khoảng $299.95, các mẫu dao mới bị đánh giá là đắt đỏ so với mặt bằng chung, đặc biệt khi so với những thương hiệu dao cao cấp lâu năm như Benchmade, Spyderco hay Civivi vốn đã có uy tín và hệ sinh thái người dùng rộng lớn. Nhiều người cho rằng Leatherman “tự tin hơi quá” khi định giá sản phẩm mới như thể họ đã là ông lớn trong thị trường dao folding.
  2. Thiếu sáng tạo thật sự: Dù được quảng bá là dòng dao cao cấp, nhưng các sản phẩm mới không mang lại tính năng nổi bật hay cải tiến đáng kể so với các mẫu dao có sẵn trên thị trường. Ngay cả cơ chế khóa mới (Compression Wedge Lock) cũng chỉ là một biến thể dựa trên các thiết kế có sẵn như compression lock hay button lock.
  3. Lạc hướng thương hiệu: Leatherman từ lâu đã gắn liền với hình ảnh multi-tool đa năng, tiện dụng. Khi hãng đột ngột chuyển sang làm dao gập thuần túy, nhiều khách hàng trung thành cảm thấy hoang mang – thậm chí thất vọng. Một số còn cho rằng Leatherman đang đánh mất bản sắc và lợi thế cạnh tranh lớn nhất của mình.

  4. Sản phẩm giới hạn – tạo cảm giác khan hiếm giả tạo: Một số mẫu, như trong dòng “Leatherman Garage”, được sản xuất với số lượng rất ít, gây khó chịu cho người dùng vì không thể mua được ngay cả khi sẵn sàng bỏ tiền. Việc này khiến nhiều người nghi ngờ rằng Leatherman đang cố tình tạo “cơn sốt ảo” thay vì tập trung vào chất lượng thực tế.

Khi một thương hiệu huyền thoại về multi-tool như Leatherman tuyên bố “chuyển mình” sang sản xuất dao gập cao cấp, người ta có quyền kỳ vọng vào điều gì đó lớn lao. Nhưng thay vào đó, thứ họ nhận được lại là giá gần 300 đô và… một đoạn quảng cáo ngầm chê chính dòng sản phẩm làm nên tên tuổi của mình. Không khó hiểu khi cộng đồng nhanh chóng “xả gạch” cho lần ra mắt này.

Anh em nghĩ sao về những sản phẩm mới này của Leatherman và có ai sẵn sàng mua chúng không?

Victorinox Workchamp: thực dụng hay chỉ để làm cảnh?

0

Dòng dao đa năng 111mm của Victorinox từ lâu đã được xem là sự kết hợp lý tưởng giữa kích thước vừa tay và độ thực dụng cao. Với thiết kế chắc chắn cùng hệ thống khóa an toàn, chúng đặc biệt phù hợp cho những ai cần một công cụ đủ mạnh để xử lý các công việc từ trung bình đến nặng – dù là trong những chuyến đi rừng, picnic hay đơn giản là sửa chữa linh tinh tại nhà.

Hôm nay mình muốn chia sẻ về Victorinox Workchamp – một trong những mẫu nổi bật nhất của dòng 111mm. Nhiều anh em có thể đã “né” cây này ngay từ lần đầu nhìn ảnh, vì vẻ ngoài khá cồng kềnh và tưởng chừng chỉ hợp để sưu tầm. Nhưng thực tế thì khác hẳn: đây là một trong những cây dao đa năng, thực dụng và được đánh giá rất cao bởi người dùng trên khắp thế giới. Hy vọng bài viết này sẽ giúp anh em có góc nhìn khác – và biết đâu lại muốn rinh ngay một em về dùng thử!

💲 Bisu đang phân phối cây Workchamp này với giá 2.390.000đ

👉 Mình tặng anh em CODE giảm 10% khi mua hàng qua web Bisu: WORKMVMDVCHAMP


Danh mục bài viết:

A. Tổng quan 

B. Chất lượng hoàn thiện

C. Bung từng chức năng

D. Tổng kết


A. Tổng quan về Victorinox Workchamp:

  • Lịch sử phát triển: Victorinox giới thiệu dòng dao 111mm vào những năm 1990, với Work Champ ra mắt năm 1996 như một phiên bản mạnh mẽ hơn của Swiss Champ (kích thước 91mm).

  • Thiết kế tổng thể: Work Champ có 6 lớp công cụ, tổng cộng 21 chức năng. Dù ít lớp hơn Swiss Champ, nhưng chiều dài lớn hơn giúp các công cụ như lưỡi dao, cưa gỗ và dũa dài hơn, tăng hiệu quả sử dụng.

  • Chức năng chính: Lưỡi dao chính dài 3.4 inch, lớn hơn nhiều dao đa năng khác, có khóa an toàn. Ngoài ra, còn có cưa gỗ, dũa kim loại, kéo, kìm, tua vít Phillips, mở nắp chai, mở hộp, dùi và mở nút chai.
  • Khóa lưỡi dao: Ban đầu sử dụng khóa trượt, sau năm 2017 chuyển sang khóa liner lock ngược, nhằm tăng độ an toàn khi sử dụng.

  • Kích thước và trọng lượng: 228g, khá lớn để mang trong túi, phù hợp hơn khi đeo thắt lưng hoặc để trong túi đựng.

*Fun fact: hiện Workchamp XL mới là cây dao 111mm nhiều chức năng nhất của Victorinox với 9 lớp, 31 chức năng và trọng lượng nặng hơn Workchamp đáng kể (khoảng 280g).

Workchamp XL được đánh giá là hợp để sưu tầm hơn là dùng thực tế bởi trọng lượng gần 300g và 9 lớp chức năng khiến nó rất cồng kềnh. Phiên bản Workchamp tiêu chuẩn thì thực tế hơn, gọn hơn, dễ dùng và dễ mua.

B. Chất lượng hoàn thiện của Victorinox Workchamp

Phiên bản tiêu chuẩn của Workchamp sử dụng ốp vỏ bằng nhựa Cellidor siêu bền với hoàn thiện bề mặt nhám, chống xước và chống bám vân tay cực tốt.

Victorinox Workchamp có chất lượng hoàn thiện rất cao, đúng chuẩn Thụy Sĩ: các công cụ đóng mở mượt mà, khớp chặt, không lỏng lẻo; lưỡi dao sắc bén, cứng cáp; các chi tiết đều gia công chính xác, không có cảm giác rẻ tiền hay thô. Tổng thể cầm chắc tay, gọn gàng dù có nhiều lớp. Đây là một sản phẩm cực kỳ tin cậy nếu bạn cần dao đa năng để dùng thực sự, không chỉ để trưng.

Chất liệu thép của Victorinox xưa nay luôn là một bí mật nhưng theo nhiều phân tích độc lập và thông tin từ hãng, loại thép mà Victorinox có đặc tính tương đương với mã X55CrMo14. Thép của Victorinox không “xịn” theo kiểu đắt đỏ, nhưng cực kỳ tối ưu cho dao đa năng: dễ dùng, dễ bảo dưỡng, chống gỉ tốt và rất bền nếu dùng đúng cách. Đó là lý do tại sao hàng triệu người tin dùng suốt hơn 100 năm.

Với khí hậu độ ẩm cao như ở Việt Nam thì Victorinox cũng thể hiện rất tốt, anh em chỉ cần lưu ý vệ sinh sạch, lau khô sau mỗi lần dùng đặc biệt là khi tiếp xúc với nước biển.

C. Bung từng chức năng (21)

1. Lưỡi dao chính (có khóa)

Workchamp có một lưỡi dao chính là ~ 8.6cm với cơ chế mở bằng 2 tay và có khóa chốt đảm bảo an toàn khi sử dụng, có thể yên tâm cắt gọt mạnh tay.

Lưỡi này có độ sắc rất tốt ngay từ lúc rời nhà máy và cũng dễ mài lại trong quá trình sử dụng sau này. Anh em có thể dùng bộ 4 rod của Lansky, mài ở góc 20° thì chỉ khoảng 1-2 phút là sắc lẹm.

  • Ưu điểm: cứng cáp, sắc bén, có khóa lưỡi chắc chắn. Chiều dài lưỡi 8.6cm cân được các nhu cầu cắt gọt cường độ trung bình.
  • Hạn chế: Workchamp hoàn toàn không có lưỡi dao nhỏ như dòng 91mm để dành cho các công việc cắt gọt chính xác và chi tiết. Anh em có thể mang theo 1 cây 91mm cơ bản hoặc 58mm để dự phòng và thay thế khi cần.

2. Vặn vít Philips 4 cạnh

Đây là chức năng cực kì hữu dụng cho các công việc sửa chữa lặt vặt hàng ngày. Victorinox đặt ngay chiếc tô vít này ở phần giữa khung giúp dễ dàng xoay và siết mạnh.

Khi cần thêm lực hơn nữa thì có thể để ở góc 90° như này.

  • Ưu điểm: Mạnh, chắc, góc thao tác chuẩn.
  • Hạn chế: Không thay được đầu.

3. Kìm kẹp + đầu bấm dây điện

Tuy không mạnh như đầu kìm chuyên dụng của Leatherman nhưng nó phù hợp để kẹp, uốn dây nhỏ hoặc nhổ đinh, gai nhọn nhờ phần mũi được thiết kế chính xác. Phần phía dưới này để bấm đầu dây.

  • Ưu điểm: thực dụng, không phải thêm vào cho có
  • Hạn chế: chỉ phù hợp công việc nhẹ nhàng, không cần lực mạnh

4. Kéo

Kéo của dòng 111mm được lấy từ dòng 91mm sang. Nó rất sắc, phù hợp cắt giấy, dây nhỏ hoặc các loại vải mỏng để sơ cứu khi cần thiết. Lò xo lẫy kéo có thể dễ dàng tháo rời và thay thế.

Anh em đừng dại dùng kéo này cắt dây kim loại nhé, nó mẻ cái là nhìn nhau cười luôn đấy.

  • Ưu điểm: sắc, bền, cắt chính xác
  • Hạn chế: dùng lâu dễ mỏi tay

5. Cưa gỗ

Cưa của Victorinox trên dòng 91mm dùng đã ổn rồi, lên 111mm thì chỉ có thể nói là “phê”. Tất nhiên nó không được như cưa chuyên dụng, nhưng đủ ngọt để xử lý mấy cành củi nhỏ đường kính khoảng 5cm đổ lại.

Các lưỡi cưa rất sắc và đặt đan xen nhau giúp hạn chế tình trạng bị kẹt, xử lý mấy cành củi khô thì phút mốt.

  • Ưu điểm: cắt ngọt, sạch
  • Hạn chế: dùng nhẹ nhàng như làm cọc lều, cắt củi nhỏ dùng cho bếp thôi

6. Dũa kim loại + cưa sắt

Ngay bên cạnh cưa gỗ là chiếc dũa kim loại với 2 bề mặt nhám khác nhau và phần lưỡi có thể dùng để cắt kim loại mỏng.

Phần dũa này có thể dùng để mài lại lưỡi rìu với độ sắc tương đối khi đi rừng, hoàn thiện bề các bề mặt kim loại. Còn phần cưa thì cũng có nhiều “huyền thoại” dùng để cắt cả ổ khóa khi mất chìa rồi, anh em có thể tự kiểm chứng.

  • Ưu điểm: được việc
  • Hạn chế: cũng không có nhiều, nó thực sự ngon so với kích thước

7. Vặn vít đầu dẹt lớn + nhỏ

Quay lại vị trí của lưỡi dao chính thì ngay cạnh đó là 2 công cụ biểu tượng của Victorinox, hầu như mọi cây dòng 91mm và 111mm cơ bản đều có. Mỗi công cụ đều tích hợp nhiều chức năng.

Phần đầu mỗi công cụ là vặn vít đầu dẹt với kích thước lớn và nhỏ, đủ xử lí hầu hết các con ốc phổ thông thường gặp.

Vặn đầu dẹt lớn có thể dùng như đòn bẩy để nạy nắp hộp sơn hay các công việc tương tự.

8. Mở nắp chai + tuốt vỏ dây điện

2 chức năng này nằm cùng với vặn vít 2 cạnh lớn trong cùng 1 công cụ

9. Mở đồ hộp

Cái này tích hợp cùng vặn vít 2 cạnh nhỏ.

10. Vặn vít siêu nhỏ

Anh em hay gọi đây là cái ruột gà, nó là một công cụ tháo rời và lắp vừa trong cái mở rượu vang. Ở phần mũi của nó là vặn vít đầu dẹt siêu nhỏ, rất hữu ích khi sửa đồ điện tử hay kính mắt.

Cái này anh em lỡ làm rơi thì mua lại dễ ẹc, 70.000đ/cái.

11. Mở nút rượu vang (nút bần)

Không biết từ bao giờ mà nhắc tới dao đa năng là nó phải có cái mở rượu vang, mà nghĩ cũng đúng. Thực ra không phải cây Victorinox nào cũng có chức năng này, thường nó được loại bỏ hoặc thay bằng vặn vít 4 cạnh (điển hình như dòng Tinker).

Khi cần thiết thì anh em dùng lưỡi dao nhỏ cũng mở được nút rượu vang nhưng có đồ chuyên dụng nó vẫn nhanh gọn hơn.

12. Dùi đục 

Hơi khó hiểu vì Victorinox lại trang bị cho cây này cái dùi đục phiên bản không có lỗ nhỏ để khâu đồ da mặc dù ít người dùng tới.

Dù sao thì cái dùi này rất được việc, nó dễ dàng xuyên qua các vật liệu mềm với độ dày vừa phải như da, giấy bìa, vải,… Còn đục gỗ thì hên xui.

Mình hay dùng nó để chế cháo mấy đồ thủ công hoặc sửa chữa lặt vặt khi đi rừng. Lưỡi dao không thay được cái đục này đâu!

13. Tăm + nhíp + móc dây

Ở 2 bên vỏ ốp là vị trí của tăm nhựa và 1 chiếc nhíp nhỏ. Cái nhíp này cứu mình bao phen khi bị gai ở cây đâm vào tay còn để nhổ lông thì không ổn lắm bởi nó hơi mỏng.

Tăm nhựa thì mình không dùng tới mấy, mà dùng xong anh em nhớ vệ sinh khử khuẩn kĩ nhé.

Cây này thì không móc khóa được rồi nên chỗ này sẽ để xỏ dây đeo tay, tránh bị rơi rớt khi sử dụng.

D. Tổng kết 

Workchamp có lẽ là cây Victorinox 111mm bị hiểu nhầm nhiều nhất thì nhiều anh em nghĩ nó chỉ để trưng nhưng thực tế không phải. Nó là sự kết hợp giữa độ bền, độ tin cậy, số lượng chức năng cao và chất lượng gia công chuẩn Victorinox. Tuy không nhỏ gọn để EDC hằng ngày, nhưng nếu bạn cần một công cụ “làm gì cũng được, mang theo đi khắp nơi”, thì Workchamp là lựa chọn cực kỳ đáng cân nhắc.

Đèn dùng pin liền vs pin rời: cái gì cũng có lí do của nó!

0

Dễ thấy một điều trong những video review đèn pin của mình thì đa số anh em đều khá “Anti” đèn pin sử dụng pin gắn liền thân. Kiểu một cây đèn tổng thể rất ổn từ thiết kế tới công năng nhưng anh em sẽ không mua chỉ vì nó dùng pin liền trong thân, không tháo được. Ngày trước mình cũng ghét đèn kiểu này lắm, chủ yếu vì 2 lí do chính:

1. Kém bền: pin chai thì khó sửa chữa và thay thế

2. Bất tiện: hết pin phải cắm sạc và đợi, không thay luôn được

Nghe thì rất thuyết phục đúng không? Rõ ràng là chẳng tội gì mua đèn dùng pin liền thay vì pin tháo rời được cả, đã không thay được khi cần mà dùng vài năm pin hỏng là coi như vứt. Nhưng mà không, cái gì cũng có lí do của nó anh em ạ. Đèn pin liền thân hay pin rời đều có ưu và nhược điểm của nó, và đa phần anh em đang tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn của người chơi đèn hoặc sử dụng đèn với cường độ cao.

Còn với những người dùng phổ thông, không có quá nhiều kinh nghiệm, kiến thức để sử dụng đèn được lâu và bền thì đèn dùng pin liền thân là sự lựa chọn tuyệt vời. Mà nói thẳng ra là 100 người mua đèn pin thì chắc được 10 ông là vì đam mê, còn lại thì họ không quan tâm đâu, quan trọng là khi cần bật là sáng, hết pin thì cắm sạc, thế thôi!

Điển hình như cây Fenix HL16 này mình vừa nhận được của 1 người bạn là dân chạy Trail, lắp pin vào rồi bỏ quên và kết quả bị chảy axit nên giờ thành cục chặn giấy luôn!

Nhận được cây đèn thì mình cũng ngồi gõ mấy dòng giúp anh em có cái nhìn cởi mở hơn về đèn dùng pin liền thân và làm rõ hơn 2 nhận định trên bởi chúng không đúng 100% tại thời điểm bây giờ đâu!


Video


1. Về độ bền và tuổi thọ của cây đèn

Độ bền bỉ, ổn định khi hoạt động

Trường hợp của cây Fenix HL16 ở trên là một lỗi rất kinh điển mà đa số người dùng đèn pin mắc phải và tất nhiên là sản phẩm sẽ bị từ chối bảo hành. Đèn đóm hay các thiết bị điện tử dùng pin tháo rời được hiện giờ đều sử dụng chủ yếu mấy loại pin sau: AAA, AA, C, D; Lithium Ion cỡ 18650, 21700,…

Các loại pin trên đều phổ biến nhưng chất lượng thì thượng vàng hạ cám đều đủ cả. Pin AAA, AA rẻ thì vài ngàn/v (pin kẽm rẻ tiền), đắt thì vài chục ngàn/v (pin Alkaline) hay cao cấp hơn là pin Lithium dùng 1 lần có giá tới cả trăm ngàn/v, chưa kể tới hàng giả, hàng nhái. Pin sạc Lithium Ion thì cũng tương tự, xịn rỏm lẫn lộn khó phân biệt ngay cả với người có kinh nghiệm lâu năm.

Dù có hướng dẫn khác hàng cẩn thận nhưng một năm bên mình nhận không biết bao nhiêu ca đèn hỏng do khách lắp pin vào rồi bị chảy Axit gây hỏng, đa phần là với đèn chạy pin AAA, AA. 2 loại pin này thì đắt hay rẻ đều bị chảy Axit hết nếu để lâu không dùng, trừ pin Lithium đắt tiền. Giải pháp là sử dụng pin sạc Nimh loại xịn, chính hãng (Eneloop, Fujitsu) nhưng giá lại đắt và thường phải đầu tư thêm bộ sạc rời nữa.

Pin sạc 18650 hàng nhái chứa toàn cát bên trong.

Với pin Lithium Ion loại phổ biến nhất là cỡ 18650 thì ôi thôi! hàng nhái, kém chất lượng tràn lan từ các cửa hàng điện tử nhỏ lẻ tới các sàn thương mại. Người không biết thì mua phải pin đểu giá rẻ cầm nhẹ hều, dung lượng ghi toàn số ở trên trời. Ai cẩn thận mua hàng có thương hiệu nhưng ở chỗ không uy tín thì lại dính hàng nhái, mà nhái bây giờ làm tới mức không phân biệt nổi cơ. Thử hình dung một cây đèn công suất khủng sáng tầm 2-5000 Lumens, cần pin xịn dòng xả cao để hoạt động ổn định mà lại lắp nhầm pin đểu vào nhỉ? nhẹ thì hỏng pin còn xui thì có nguy cơ cháy nổ.

Fenix E03R V2.0 với pin liền trong thân.

Trong khi đó đèn dùng pin liền thân lại bền và an toàn hơn rất nhiều vì:

  • Cell pin bên trong toàn là loại chất lượng cao, đảm bảo dung lượng, dòng xả cho đèn hoạt động ổn định nhất. Pin tích hợp đa phần là pin Lithium Ion hay Nimh nên gần như không bao giờ có hiện tượng chảy Axit kể cả khi để lâu không dùng.
  • Người dùng không tự ý tháo ra thay pin khác không đảm bảo vào được.

Mình bán đèn pin và thấy một thực tế rằng tỉ lệ bảo hành của đèn dùng pin liền thân rất thấp so với phần còn lại, nhất là lỗi liên quan tới người dùng.

Tuổi thọ của cây đèn

Đây là lí do chính khiến nhiều anh em dù mới hay chơi lâu đều ngại dùng đèn pin liền thân bởi rõ ràng tuổi thọ của cây đèn sẽ phụ thuộc vào viên pin. Điều này là đúng bởi ngay cả các hãng lớn như Fenix, Olight, Nitecore,… cũng chỉ bảo hành 2 năm cho những mẫu đèn dùng pin liền thân thay vì 5 năm cho phần còn lại. Tức là khi hết bảo hành mà đèn có hỏng do pin hay bất kì lí do gì thì cũng chỉ có vứt đi hay làm cục chặn giấy. Nhưng mà thực tế nó không đáng sợ đến nỗi như vậy đâu, bởi vì:

3d rendering group of electric cars with pack of battery cells module on platform in a row
  • Pin sạc Lithium bây giờ cực kì bền, phần lớn cũng nhờ sự phát triển của xe điện mà các nhà sản xuất pin có động lực để tối ưu hóa tuổi thọ của pin. Đèn pin thường sử dụng pin Lithium Ion hoặc Lithium Polymer, cả 2 loại này để có tuổi thọ trung bình từ 2-5 năm hoặc khoảng ~ 500 lần sạc trước khi xuống cấp.
    • Ví dụ với tần suất 1 tuần sạc pin 1 lần -> 1 năm sạc ~ 48 lần thì phải 10 năm mới đạt đủ 500 lần sạc, còn thực tế thì bền được tầm 5 năm là dùng hết khấu hao cây đèn rồi.
  • Pin sạc liền thân sẽ hạn chế tối đa được hỏng hóc do lỗi người dùng (lắp pin đểu vào), mà đa phần đèn hỏng do lỗi này chứ các linh kiện điện tử giờ bền lắm.
  • Các hãng bây giờ đều hỗ trợ sửa chữa đèn của họ ngay cả khi hết bảo hành. Chẳng hạn như Fenix thì bên mình vẫn hỗ trợ khách gửi những mẫu cũ đi sửa và chỉ tính chi phí vận chuyển thôi (rẻ bèo). Nếu hãng hết linh kiện hay không sửa được thì đại lí cũng sẽ hỗ trợ giảm giá sâu nếu khách cần mua đèn mới.

-> Nói chung là vấn đề tuổi thọ của đèn bây giờ nó không đáng để anh em quá bận tâm nữa, chủ yếu nhờ công nghệ pin và chế độ hậu mãi tốt của các hãng đèn. 

2. Về sự tiện lợi

Cái này phải đánh giá dựa trên nhu cầu và cường độ sử dụng của mỗi người. Chẳng hạn nếu bạn dùng đèn pin hàng ngày với cường độ rất cao chẳng hạn như đi hang động, đi rừng,… cần duy trì độ sáng cao liên tục thì thiết kế pin rời là hợp lý nhất. Những anh em trong nhóm này thường luôn có sẵn rất nhiều pin dự phòng mang theo người rồi, khi cần là thay luôn.

Còn với người dùng phổ thông, mang đèn theo dùng mỗi ngày 10-15 phút hay thỉnh thoảng đi du lịch, cắm trại, dã ngoại nhẹ nhàng thì thiết kế pin liền lại tối ưu về sự tiện lợi với và bền bỉ.

Đèn có pin liền thân sẽ luôn được tích hợp cổng sạc (Type-C hoặc nam châm), vậy nên sử dụng hàng ngày trong đô thị rất tiện, bất kì cũng nào cũng tranh thủ sạc được. Đặc biệt là mấy cây đèn cỡ nhỏ mà dùng pin rời thì thường không có cổng sạc và cả đèn báo pin luôn, không biết khi nào pin sắp hết và không phải lúc nào cũng tiện thay thế.

Olight Marauder 2 được trang bị sạc nhanh 30W

Với những mẫu đèn lớn hơn thì đa phần đều được trang bị công nghệ sạc nhanh rồi, trung bình từ 16 – 30W cho phép đầy pin dưới 4 tiếng.

Đấy là còn chưa kể tới những thiết đèn pin phi truyền thống kích thước siêu nhỏ gọn, độ sáng khủng phần lớn nhờ sử dụng pin Lithium Polymer với ưu điểm là hình dáng dẹt và dòng cả cực cao. Nếu sử dụng loại pin này thì thiết kế tháo rời được để thay thế rõ ràng là không hề tối ưu bởi đánh đổi lại sẽ là sự liền mạch và khả năng chống nước của cây đèn.

Olight Oclip với thiết kế rất thực dụng mà chỉ có pin liền thân mới làm được.

Tổng kết

Tóm lại thì thiết kế đèn pin liền thân là rất phù hợp với những người có nhu cầu sử dụng không quá cao, không có kinh nghiệm sử dụng và bảo quản đèn đúng cách hoặc với anh em ưu tiên sự nhỏ gọn, đơn giản.

Như mình hiện vẫn duy trì cả 2 loại đèn trên tùy nhu cầu:

  • Sử dụng nhẹ nhàng hàng ngày trong đô thị thì cây Fenix E03R V2 nhỏ gọn, siêu sáng, tích hợp cổng Type-C là chân ái
  • Đi rừng dài ngày sẽ mang theo đèn khác và pin sơ cua
  • Còn tặng người thân, bạn bè thì sẽ luôn là đèn dùng pin liền thân

Cái chính muốn đúc kết lại ở đây là anh em dùng hay chơi đèn thì cứ để nó phục vụ mình, đừng lo xa quá kẻo lại mất vui!